Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Bùng nổ du học Úc (kỳ 1)

Tag,tags,học bổng, học bổng du học Úc, du học Úc,Du học Úc, Học bổng, du học ÚC,| học tiếng anh | tiếng anh giao tiếp | tiếng anh trẻ em,Du học Châu Mỹ,Du học Canada,Du học Mỹ,Truong Quoc Te,Cao Dang Quoc Te,Du học Châu Úc,Du học Úc,Du học New Zealand,Du học Châu Á,Du học Singapore,Du học Nhật Bản,Du học Hàn Quốc,Du học Trung Quốc,Du học Châu Âu,Du học Anh,Du học Pháp,Du học Thuỵ Sĩ,Du học Hà Lan,Du học Đức, du học Úc,

(LĐ) – Chủ nhật 10/07/2011 07:30

Từ năm 2000 đến cuối năm 2010 là giai đoạn bùng nổ du học Úc với số lượng sinh viên Việt Nam đăng kí các khóa học tại Úc tăng gấp gần 7 lần và đạt mức 25.788 du học sinh.

Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút
Úc luôn là điểm đến đầy hấp dẫn với các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam. Ảnh: Bay vút

Bối cảnh hội nhập

Trong giai đoạn 2000-2006, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,63%/năm. Cũng trong thời kì này, xu hướng cho con đi du học nước ngoài đã trở nên phổ biến với các gia đình khá giả.

Theo Bộ GD-ĐT Việt Nam, nếu như trong những năm 1997-1998, khi phong trào du học bắt đầu phát triển và Anh, Pháp, Mỹ là những quốc gia được du học sinh Việt Nam lựa chọn nhiều nhất thì cho đến giai đoạn kể từ năm 2000 trở đi, thị trường du học đã thay đổi nhiều với những điểm đến như Úc, New Zealand, Anh, Mỹ, Singapore và Thụy Sĩ.

Phần lớn sinh viên Việt Nam sang Úc du học theo diện tự túc nhưng bên cạnh đó, vào tháng 4/2000, chính phủ Việt Nam đã xây dựng Đề án “Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (gọi tắt là Đề án 322) và cấp học bổng du học cho các nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách và doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó còn có một số lượng nhỏ sinh viên nhận được học bổng của các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học cũng góp phần khiến cho bức tranh du học Úc thêm phong phú.

Một yếu tố khác không thể không nhắc đến là sự đóng góp lớn lao của Chính phủ Úc trong việc giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế nói chung và giáo dục nói riêng. Nhân dịp đánh dấu kỉ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Úc-Việt (bắt đầu từ năm 1973), Ngoại trưởng Úc lúc bấy giờ, ông Alexander Downer, đã tuyên bố chương trình tài trợ trị giá 263 triệu đô-la Úc cho Việt Nam trong vòng 4 năm, trong đó có giai đoạn 2001-2002, nhằm tập trung cải thiện hệ thống y tế, cơ sở hạ tầng và tiếp tục viện trợ giáo dục thông qua các chương trình Học bổng Phát triển Úc vốn đã được Cơ quan phát triển Quốc tế Úc (AusAID) triển khai từ năm 1992.

Theo số liệu của Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI), tính đến năm 2006, số lượng học sinh, sinh viên Việt Nam sang Úc học tập là 6.772 người, tăng gấp 1,5 lần năm 2000. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên theo học các khóa tiếng Anh (ELICOS) cũng tăng lên 45.8% (đạt 1637 người), nhóm đối tượng học nghề tăng 29,8% (đạt 1089 sinh viên). Đặc biệt trong giai đoạn này, tổng số học sinh sang Úc học trung học đã tăng lên 51.6% và đạt 2907 người vào năm 2006.

Bước ngoặt với thị trường du học

Kể từ năm 2007, mối quan hệ hợp tác song phương Úc-Việt đã ngày càng củng cố và được nâng lên tầm cao mới, trở thành “Đối tác toàn diện” vào tháng 9/2009. Trong diễn tiến đó, vào năm 2010, chính phủ Úc công bố mỗi năm tổ chức AusAID sẽ cung cấp cho các sinh viên Việt Nam 225 Học bổng Phát triển (nay gọi là “Học bổng Australia vì sự Phát triển của Việt Nam” (ASDiV), tăng 50 % so với năm 2008. Thêm vào đó, Việt Nam cũng sẽ nhận được khoảng 15 Học bổng Năng lực lãnh đạo Australia (ALA) dài hạn và 40 học bổng ALA ngắn hạn. Hiện Việt Nam là nước đứng thứ ba về số lượng sinh viên được nhận học bổng ASDiV của Úc.

Cho tới giai đoạn gần đây nhất vào ngày 25/1/2011, Úc và Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề. Trong chuyến công du Việt Nam vào ngày 13/4/2011 vừa qua, Ngoại trưởng Kevin Rudd đã cam kết Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc cải cách giáo dục bậc cao thông qua việc cung cấp học bổng và các khóa đào tạo. Ngoài ra, theo kế hoạch viện trợ của Úc, cho tới năm 2015, AusAID sẽ cung cấp tổng cộng khoảng 1680 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam.

Những nguyên nhân đó đã khiến cho số lượng du học sinh Việt Nam sang Úc học tập gia tăng rất mạnh mẽ kể từ năm 2007 tới nay. Cho đến năm 2009, thứ bậc xếp hạng của Việt Nam đã tăng đáng kể và chỉ xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan và Nepal. Chỉ tính riêng trong ba tháng đầu năm 2011 đã có tổng số 17.651 sinh viên Việt Nam đăng kí nhập học.

Trào lưu mới: di dân du học

Trong nỗ lực góp phần vào dòng chảy du học, không thể không nhắc đến sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực công nghệ thông tin với tốc độ từ 15-20% và “gần như là số 1 trong khu vực” (theo lời ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU). Vì vậy, khoảng cách giữa Việt Nam và các quốc gia đã ngày càng thu hẹp lại và du học không còn là một điều quá to tát đối với các “công dân toàn cầu” tương lai ở đất nước này. Ngoài ra, còn phải nhắc đến một số nhân tố khác như sự thương mại hóa giáo dục, sự phát triển của các hình thức tín dụng du học tại Việt Nam, sự mở rộng các hình thức liên kết giáo dục bán du học Việt-Úc…

Về phía các sinh viên, một số lý do chính khiến họ lựa chọn du học Úc là vì bằng cấp được quốc tế công nhận, môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân thiện, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện.

Trong những năm qua, Úc rất mở cửa trong chính sách nhập cư và thường quảng bá du học gắn liền với việc có thể dễ dàng xin được thường trú Úc (PR – Permanent Residency) để định cư lâu dài tại đất nước chuột túi. Điều này đã góp phần khiến cho lượng sinh viên sang Úc du học tăng nhanh chóng, đặc biệt là đội ngũ sinh viên học nghề như làm tóc, làm bánh, nấu ăn, quản lý nhà hàng, khách sạn, thợ cơ khí… vì đây là những ngành nghề nước Úc thiếu hụt lao động. Từ năm 2000 đến cuối năm 2010, số du học sinh Việt Nam theo học các khóa nghề ở Úc đã tăng gần 9 lần.

Với việc cắt giảm danh sách ngành nghề ưu tiên (để xin PR) của Bộ Nhập cư và Quốc tịch (DIAC) vào tháng 5/2010, số lượng sinh viên Việt Nam sang Úc học nghề tuy đã có sự sụt giảm nhưng không nhiều (khoảng 4,5%) trong năm này.

Tuy nhiên, vào ngày 11/11/2010, chính sách di trú của Úc lại một lần nữa thay đổi, theo đó, những sinh viên muốn xin PR phải đáp ứng nhu cầu cao hơn về tiếng Anh và kinh nghiệm làm việc. Trước sự thay đổi này, có nhiều ý kiến cho rằng PR chỉ còn là một “giấc mơ xa vời” với phần lớn sinh viên quốc tế.

Nước Úc và cuộc chơi mang tên PR 

Có thể nói rằng trong giai đoạn từ năm 2000-2008, nước Úc rất cởi mở trong chính sách nhập cư và việc quảng bá du học Úc thường được gắn liền với định cư nhằm thu hút sinh viên quốc tế. Điều này đã khiến cho không ít sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam, có cơ hội xin được thường trú lâu dài – PR (Permanent Residency) và trở thành công dân Úc.

Tuy nhiên, trong khoảng hai năm trở lại đây, luật PR của Úc liên tục thay đổi. Từ một đất nước mở cửa thu hút lao động nhập cư đến từ các quốc gia khác dưới thời Thủ tướng John Howard, Chính phủ Úc dưới thời Thủ tướng Kevin Rudd và gần đây là Julia Gillard đang dần đóng chặt cánh cửa nhập cư.

Trước đây, để xin được PR thì du học sinh phải có đủ 120 điểm theo cách tính của Bộ Nhập cư và Quốc tịch Úc – DIAC dựa trên cơ sở bằng cấp, độ tuổi, trình độ tiếng Anh… Bên cạnh đó, những sinh viên có ngành học nằm trong Danh sách Ngành nghề nhập cư có nhu cầu cao tại Úc – MODL (Migration Occupations on Demand List) sẽ được cộng thêm điểm ưu tiên.

Tuy nhiên, vào ngày 8/2/2010, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc lúc bấy giờ là Thượng nghị sĩ Chris Evans thông báo bãi bỏ MODL và không lâu sau đó, vào tháng 5/2010, DIAC cắt giảm Danh sách các Ngành nghề ưu tiên (Skilled Occupation List – SOL), từ 408 ngành nghề xuống chỉ còn 181 ngành.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước khởi đầu của chiến lược cải cách nhập cư của chính phủ Úc.

Quyết tâm cải cách chính sách nhập cư

Điểm nổi bật nhất của luật PR mới là mặc dù để có thể đủ điều kiện nộp hồ sơ PR, các ngành học của sinh viên vẫn phải nằm trong SOL nhưng hiện nay, SOL không còn được sử dụng làm cơ sở để tính điểm như trước nữa. Đây là một trong những nỗ lực của chính phủ nhằm tách rời hơn nữa chính sách du học và định cư với lí do “chính sách nhập cư của Úc không thể bị quyết định bởi các khóa học của sinh viên quốc tế” theo tuyên bố của Thượng nghị sĩ Chris Evans, Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch Úc vào năm 2010.

Chính sự buông lỏng quản lí của Chính phủ Úc trong lĩnh vực giáo dục đã dẫn đến thực trạng là mặc dù trong những năm vừa qua có một số lượng lớn sinh viên quốc tế xin được PR theo diện tay nghề nhưng rất nhiều người trong số đó lại không thể tìm được việc làm đúng chuyên ngành vì chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động Úc.

Với sự thay đổi luật PR có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2011, chính phủ Úc đã thể hiện quyết tâm cải cách chính sách nhập cư. Tuy nhiên, hiện có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc thay đổi chính sách di trú theo chiều hướng thắt chặt hơn sẽ càng khiến cho Úc bị thiếu hụt trầm trọng lao động lành nghề trong tương lai.

Sinh viên quốc tế “khóc ròng”

Chính sách di trú mới đưa ra những yêu cầu cao hơn rất nhiều đối với các ứng cử viên xin PR, theo đó ưu tiên nhóm đối tượng có trình độ cao, đặc biệt là tiến sĩ (được cộng 20 điểm), cử nhân hoặc những người có cả bằng cử nhân và thạc sĩ (15 điểm).

Luật PR mới cũng ưu tiên cho những ứng cử viên trong độ tuổi từ 25-32 bởi thống kê của Cục Thống kê Úc (ABS) cho thấy nhóm lao động nhập cư nằm trong độ tuổi này mang lại lợi ích nhiều nhất cho nền kinh tế Úc. Hơn nữa, những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc tại Úc và 8 năm tại các nước khác cũng có nhiều lợi thế trong việc được cộng thêm điểm.

Bên cạnh đó, một trong những thay đổi gây ra thách thức lớn nhất cho sinh viên quốc tế là việc DIAC nâng cao yêu cầu về điểm tiếng Anh IELTS, theo đó, chỉ có những người đạt 7 điểm IETLS trở lên (không có kĩ năng nào dưới 7) thì mới được cộng thêm điểm.

Không phải đến tận bây giờ chính sách nhập cư của Úc mới thay đổi mà trước đây Bộ Nhập cư và Quốc tịch nước này cũng từng khẳng định chắc chắn rằng: “Luật di trú sẽ liên tục thay đổi theo thời gian”.

Và xem ra giấc mơ mang tên PR sẽ vẫn còn như một trò đuổi bắt với các sinh viên quốc tế…

(Theo bayvut số ra ngày 7 và 8.6.2011)

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Bung-no-du-hoc-Uc-ky-1/20242.bld

Bùng nổ du học Úc: Khi “miếng bánh” nhập cư không còn

Bùng nổ du học Úc: Khi “miếng bánh” nhập cư không còn

Bùng nổ du học Úc: Khi “miếng bánh” nhập cư không còn

Tag,tags,học bổng, học bổng du học Úc, du học Úc,Du học Úc, Học bổng, du học ÚC,| học tiếng anh | tiếng anh giao tiếp | tiếng anh trẻ em,Du học Châu Mỹ,Du học Canada,Du học Mỹ,Truong Quoc Te,Cao Dang Quoc Te,Du học Châu Úc,Du học Úc,Du học New Zealand,Du học Châu Á,Du học Singapore,Du học Nhật Bản,Du học Hàn Quốc,Du học Trung Quốc,Du học Châu Âu,Du học Anh,Du học Pháp,Du học Thuỵ Sĩ,Du học Hà Lan,Du học Đức, du học Úc,

(LĐ) – Chủ nhật 17/07/2011 07:30

Sự thắt chặt chính sách nhập cư của chính phủ Úc đã có tác động tiêu cực tới không chỉ ngành công nghiệp giáo dục của nước này mà còn với cả các sinh viên quốc tế, trong đó có Việt Nam.

Tài chính là một trong những nỗi lo âu bậc nhất của cả các bậc phụ huynh lẫn du học sinh Việt Nam. (ABC News: Gary Rivett)
Tài chính là một trong những nỗi lo âu bậc nhất của cả các bậc phụ huynh lẫn du học sinh Việt Nam. (ABC News: Gary Rivett)

Ngành công nghiệp giáo dục bạc tỉ đi xuống

Có thể nói sự thay đổi chính sách di trú liên tục của Chính phủ Úc trong vòng hai năm trở lại đây là một phần nguyên nhân khiến cho số lượng sinh viên quốc tế sang quốc gia này sụt giảm, nhất là trong lĩnh vực đào tạo nghề.

Trong một bài phỏng vấn, ông Tony Pollack, Tổng giám đốc Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (IDP), cũng nhận định rằng việc Chính phủ Úc thắt chặt nhập cư là một phần nguyên nhân gây ra sự sụt giảm này. Bên cạnh đó, việc này cũng tác động đến doanh thu của ngành giáo dục nói riêng và sự phát triển kinh tế của Úc nói chung do sự thiếu hụt lao động lành nghề trong tương lai.

Theo số liệu của Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI), tính đến trước khi luật PR thay đổi vào năm 2009, tổng số sinh viên quốc tế tại Úc là 631.935 người. Cũng trong giai đoạn 2000-2009, số lượng sinh viên đăng kí các khóa học nghề tại Úc đã gia tăng đáng kể, từ 30.759 sinh viên vào năm 2000 lên gấp hơn 7,5 lần (tương đương 232.475 sinh viên) vào năm 2009.

DIAC cũng cho biết các ngành nghề có sức hấp dẫn lớn nhất đối với sinh viên quốc tế là ngành thực phẩm và quản lí khách sạn. Trong năm 2009, số sinh viên đăng kí hai ngành học này đã tăng lên tới 30%.

Tuy nhiên, sau khi chính sách PR mới theo chiều hướng thắt chặt nhập cư được công bố vào giữa năm 2010 thì tính đến cuối năm này, tổng số sinh viên quốc tế đăng kí các khóa học tại Úc giảm chỉ còn 619.119 sinh viên. Tính đến tháng 12/2010, số sinh viên quốc tế học nghề tại Úc đã giảm 26.000 sinh viên (tương đương với 11%) so với cùng kì năm 2009.

Sinh viên Việt Nam trước sự thay đổi

Sinh viên Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung. Trước đây, có rất nhiều sinh viên Việt Nam chọn học nghề bởi việc sở hữu chứng chỉ nghề có thể giúp họ dễ dàng xin được PR.

Hiện nay, sinh viên Việt Nam sang Úc  chỉ đạt mức 8,5% trong giai đoạn 2009-2010 so với con số 65% của thời kì đỉnh điểm bùng nổ du học từ 2007-2008 và 49,9% từ năm 2008-2009.

Cơ quan Giáo dục Quốc tế Úc (AEI) đã nhận định rằng một trong những lí do khiến cho số lượng sinh viên Việt Nam sang Úc học nghề tăng vọt trong những năm vừa qua là do “ngày càng có rất nhiều sinh viên Việt Nam muốn có được PR để định cư lâu dài tại Úc”. Vì vậy, sự thay đổi liên tục chính sách nhập cư của Úc vào năm 2010 có tác động lớn tới sự lựa chọn các khóa học của sinh viên Việt Nam cũng là điều dễ hiểu.

Liệu đã hết “cửa” PR?

Trước sự thay đổi liên tục theo chiều hướng ngày càng thắt chặt của luật PR, một câu hỏi được đặt ra là: “Phải chăng sinh viên quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng đã hết “cửa” ở lại Úc?”

Trước câu hỏi trên, DIAC cho biết các sinh viên quốc tế vẫn còn “cửa” cuối cùng là sau khi tốt nghiệp có thể tìm công ty bảo lãnh visa việc làm (loại visa 457) và sau khi làm việc hai năm sẽ có thể xin được PR.

Ưu điểm của hình thức này là danh sách các ngành nghề do công ty bảo lãnh thường nhiều hơn so với những ngành được quy định trong Danh sách các Ngành nghề Ưu tiên (SOL) nếu sinh viên nộp đơn xin PR theo dạng thông thường. Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì đây cũng là một trong những giải pháp khó khăn nhất, chỉ có những ứng cử viên nào thật sự nổi trội về trình độ cộng với may mắn thì mới có thể nhận được sự bảo lãnh của các doanh nghiệp Úc.

Ngoài ra, các sinh viên quốc tế cũng có thể tính đến phương án nộp hồ sơ xin bảo lãnh theo Chương trình Bảo lãnh Di dân tại các vùng xa xôi, hẻo lánh của nước Úc (RSMS) hoặc xem xét khả năng xin bảo lãnh của chính quyền tiểu bang để ở lại làm việc nếu đủ điều kiện.

Luật sư Tạ Quang Huy, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Di trú MPA, thành viên Ban Chấp hành – Liên đoàn Di trú Úc, cho biết thêm: “Du học sinh vẫn có khả năng gia tăng cơ hội xin PR bằng cách xin học tại các vùng sâu, vùng xa, học thêm các khóa chuyên nghiệp (Professional Year) đối với một số ngành, hoặc xin visa ngắn hạn (TR) để đi làm lấy thêm kinh nghiệm sau khi học xong. Ngoài ra, còn một “cửa” khác là các em có thể mở doanh nghiệp tư nhân để hoạt động rồi sau đó sẽ xin PR theo dạng doanh nhân”.

Tuy nhiên những trường hợp xin được PR theo tư vấn của ông Huy là khá hiếm hoi và nhìn chung, “cánh cửa” PR dường như chỉ còn lại một khe cực nhỏ.

Hoàn cảnh đáng buồn và sự nghịch lý 

Có một nghịch lý là người Việt vẫn muốn đưa con em họ sang Úc du học bất chấp tình hình có nhiều khó khăn như hiện nay.

Nhiều phụ huynh ở Việt Nam đã, đang hoặc sắp gởi con em mình sang Úc du học đều “choáng váng” trước sự tăng giá của đồng đôla Úc kể từ cuối năm 2009.

Nếu như ở giai đoạn suy thoái kinh tế vào thời điểm đầu năm 2009, 1 đôla Úc đổi được 11 ngàn đồng Việt Nam thì vào thời điểm hiện nay, tháng 6.2011, 1 đôla Úc đổi được 22 ngàn đồng Việt Nam.

Đó cũng là nỗi lo âu của nhiều cha mẹ Việt Nam có con du học tự túc ở Úc hiện nay.

Hồi đầu năm 2010, ông Lê Chính, giảng viên một trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh và có con em du học tự túc ở Úc, vẫn còn tỏ ra khá bình thản về vấn đề tài chính – kể cả khi đô la Úc tăng giá – vì gia đình ông đã chuẩn bị sẵn tinh thần. Thế nhưng cho đến nay thì cả hai ông bà đều bày tỏ sự lo lắng không yên. “Nếu đôla tiếp tục lên giá trong khi đồng Việt Nam tiếp tục mất giá như tình hình hiện nay, chúng tôi chưa biết phải đối phó ra sao”.

Anh chị Phong và Huyền, người có con vừa sang Melbourne hồi đầu tháng 4/2011 học ngành Kinh doanh tại trường RMIT, cho hay theo tính toán trước đây, với mức học phí là 20.000 đôla Úc/năm, anh chị phải chi khoảng 300 triệu đồng tiền học phí/năm. Tuy nhiên, với mức đôla Úc cao giá hiện nay, anh chị phải chi tới khoảng 450 triệu đồng/năm cho con.

Nói theo lời bà Thu Hằng, một phụ huynh có con trai đang học tại Đại học La Trobe (Melbourne), thì cha mẹ ở Việt Nam hiện chỉ kiếm được “bạc lẻ” trong khi phải chi cho con du học bằng “bạc chẵn”.

Giá sinh hoạt ở Úc leo thang

Nỗi éo le ở chỗ, trong khi “bạc lẻ” ở Việt Nam ngày càng khó kiếm và lại mất giá thì ở Úc, các du học sinh Việt buộc phải chi tiêu “bạc chẵn” ngày một nhiều hơn, tốn kém hơn.

Trần Hùng, sinh viên du học tại Melbourne, cho biết căn hộ anh cùng với vài người bạn ở chung cách nay 2 năm giá gần 1.000 đôla/tháng thì nay đã lên 1.200 đôla/tháng và “còn có thể tăng nữa”.

Mặc dù giá cả tại Úc không tăng mạnh như giá cả ở Việt Nam nhưng theo Chỉ số Giá tiêu dùng (Price Index) do Văn phòng Thống kê Úc công bố tình hình giá cả ở Úc cũng có một số thay đổi.

Từ tháng 3/2010 tới tháng 3/2011, giá thực phẩm ở Úc tăng 4,3%, rượu và thuốc lá tăng 11,2%, giá nhà tăng 4,8%, giá vận chuyển tăng 4,1%, giáo dục tăng 5,9%…

Trong thời gian này chỉ có một vài mặt hàng là giảm giá chút đỉnh như quần áo và giày dép giảm 1,3%, phương tiện giải trí giảm 1,5%, đồ đạc gia dụng trong nhà và dịch vụ giảm 0,5%…

Khi du học sinh Việt mất “cả chì lẫn chài”

Mặc dù ở Úc ít người thất nghiệp, nhưng đối với đa số du học sinh quốc tế thì việc kiếm được việc làm thêm trong thời gian du học không hề là điều dễ dàng.

Chính vì vậy mà nhiều phụ huynh ở Việt Nam thừa nhận nếu như trước đây nỗi lo hàng đầu của họ là con cái đi học xa nhà sẽ hư hỏng, thì nay “nỗi lo lớn lao” không kém chính là sức ép về tài chính.

Bà Thu Hằng cho biết hiện con trai bà ở Melbourne đang phải “gồng mình” với hai gánh nặng là vừa đi học vừa kiếm tiền. Bà cho hay: “Chỉ sợ cháu không kham nổi sẽ “gẫy” cả hai. Biết là vậy nhưng không thể giúp cháu hơn được”.

Thực tế đã có du học sinh Việt “gẫy cả hai” bởi không vượt qua được những khó khăn ở Úc. Nói cách khác là họ mất “cả chì lẫn chài”.

Anh Lê, một du học sinh tại Úc, là người đã phải nghỉ học giữa chừng vì gia đình không còn khả năng hỗ trợ tài chính.

Cách nay ba năm, từ Việt Nam, Lê lên đường sang Úc để học kế toán. Khi đó cuộc đời là cả một màu hồng đối với anh và gia đình.

Ước mơ du học rất lớn của Lê nhận được sự hỗ trợ hoàn toàn của gia đình anh. Dù gia đình Lê cũng chỉ đủ ăn nhưng viễn cảnh về một tương lai xán lạn khi trở thành tài đã khiến Lê mạnh dạn lên đường dù biết rõ cha mẹ chỉ có thể lo đủ tiền học cho anh vào năm đầu tiên.

Thời gian đầu mọi việc diễn ra tương đối thuận lợi, Lê rất chăm chỉ làm việc, vừa làm bồi bàn ở nhà hàng, vừa bán hàng ở chợ và tự trả được sinh hoạt phí. Nhờ thế cha mẹ Lê không phải gởi tiền từ Việt Nam sang giúp đỡ con mình.

Tuy nhiên vào năm học kế tiếp, vì sức người và thời gian đi làm có hạn, dù xoay sở vất vả và bươn chải với thực tế khó khăn của cuộc sống, Lê vẫn không kiếm đủ tiền trả học phí. Cha mẹ anh phải vay mượn hơn 100 triệu đồng gởi sang cho anh để trả tiền học phí.

Sự việc ngày càng trở nên u tối hơn khi tới học kỳ cuối, Lê thi trượt tới 3 trên tổng số 4 môn học, nguyên do chính vì anh đã phải đi làm thêm quá nhiều nên không đủ thời gian lên lớp và học tập.

Các khoản sinh hoạt phí cộng với số tiền học lại (2000 đôla/môn) trở nên quá nặng nề đối với khả năng của anh và gia đình. Bản thân Lê đã “đầu hàng” không thể lo nổi. Trong khi đó, gia đình anh ở Việt Nam cũng quá “đuối sức”, không còn khả năng nên Lê đành phải bỏ học giữa chừng.

Lê cho hay anh sẽ quay trở lại Việt Nam kiếm tiền với ước vọng một ngày kia quay trở lại Úc để hoàn thành giấc mơ dang dở. Tuy vậy, những người biết chuyện đều cảm thấy ước nguyện này của Lê là khá xa xôi.

Như chúng tôi đã nêu ở đầu bài viết này, có một điều nghịch lý là bất chấp bối cảnh kinh tế xã hội cả Việt Nam lẫn Úc đều có nhiều thay đổi (hầu hết là theo chiều khó khăn hơn trước đây), các bậc cha mẹ và du học sinh đều than phiền về những trở ngại khi du học Úc hôm nay… thế nhưng lượng sinh viên Việt Nam tới Úc du học vẫn không suy giảm.

Chỉ riêng ba tháng đầu năm 2011, tổng cộng 17.651 sinh viên Việt đã đăng ký nhập học tại các đại học trên khắp nước Úc.

Tình trạng nghịch lý này phải được lý giải ra sao và còn kéo dài đến bao giờ?

(Theo Bayvut số ra ngày 9 và 14.6.2011)

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Bung-no-du-hoc-Uc-Khi-mieng-banh-nhap-cu-khong-con/2429.bld

Nhìn lại hình tượng nhân vật Ông Tây An Nam

Gần tám mươi năm trước, vở kịch  “Ông Tây An Nam ” với một hình tượng nhân vật độc đáo đã gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ đó tới nay, cụm từ “ông tây An Nam” đã trở thành một điển tích mới trong văn học hiện đại, có đời sống riêng trong tâm thức người Việt, mà nhắc tới nó, thì ai cũng hiểu đó là cụm từ chỉ một kẻ “Tây hoá” đến mức mất hết “gốc Việt”.

Tuy vậy, người sáng tạo ra hình tượng nhân vật độc đáo ấy thì không phải ai cũng biết. Đó là nhà văn đồng thời là người chiến sĩ cách mạng ưu tú Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc.

 

                                                                 

Nhắc đến thế hệ giữ vai trò mở đường, lập nên nền kịch nói Việt Nam, thì cùng với các tác giả Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền,… không thể không nhắc đến Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc, người không chỉ có một nhân cách rất đáng trọng, mà còn có những sáng tạo nghệ thuật thành công ngay khi mới xuất hiện. Nam Xương (1905 – 1958) tên thật là Nguyễn Cát Ngạc, quê ông ở xã Phù Khê (Từ Sơn – Bắc Ninh). Trong gia tộc, ông là anh em ruột với thân sinh nhà sử học Nguyễn Lương Bích, và là chú họ đồng chí Nguyễn Văn Cừ. Với lòng yêu nước sâu sắc, ông sớm dấn thân vào phong trào yêu nước, rồi gia nhập đội ngũ của những người cộng sản. Ông đã hai lần nhận án tử hình của Nhật và Pháp, và cuối cùng ông đã hy sinh ở miền Nam vào năm 1958, với cương vị là chiến sĩ tình báo cách mạng và được truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công năm 1976. Thời Pháp thuộc, là kỹ sư công chính nhưng ông lại say mê văn chương, đặc biệt là say mê viết kịch. Ông thuộc thế hệ đầu tiên đưa kịch nói đến với sân khấu Việt Nam trong tư cách là một thể loại mới, chưa từng có trong lịch sử nghệ thuật dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, do nhận thức được yêu cầu tư tưởng – thẩm mỹ mới trong sáng tạo nghệ thuật, các tác giả kịch bản thuộc thế hệ đầu tiên ở Việt Nam như Trương Ái Chủng, Nguyễn Hữu Kim, Vũ Đình Long, … ngay từ đầu đã đi theo khuynh hướng phê phán hiện thực. Họ đưa lên sân khấu bức tranh đầy nghịch cảnh của một xã hội ở buổi giao thời với sự đối lập giữa nghèo đói và phè phỡn, giữa văn hóa và sự lố bịch, vong bản. Và Ông Tây An Nam của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc là một trong những tác phẩm điển hình của khuynh hướng này.

Ông Tây An Nam là kịch bản được viết vào năm 1931, chuyện kịch xảy ra trong gia đình Cưu ông. Cưu ông chuộng danh giá, cho con là Lân sang Pháp học, đỗ cử nhân. Nhưng sau khi nhập làng Tây, cử Lân lại quay sang khinh bỉ dân tộc mình. Về nước, mẹ là Cưu bà ra đón, y không thèm nhận bà mẹ bản xứ quê mùa, liền vu cho bà là kẻ cắp, gọi “cẩm” cho bà vào “bóp”. Y không về nghỉ ở nhà cha mẹ mà thuê khách sạn ở, vì ghê sợ sinh hoạt của người An Nam. Về thăm nhà, y chỉ nói tiếng Pháp, bắt gã hầu phiên dịch ra tiếng Việt. Y sỉ mắng, nhục mạ mọi người, kể cả cha mẹ. Y nói với cụ Huấn, một người họ hàng xa với Cưu bà rằng: “Ma patrie est la France, je suis Francais” (Tổ quốc tôi là Đại Pháp, tôi là người Đại Pháp). Cha mẹ mời ăn cơm y không ăn, mời uống nước y cũng không uống, vì sợ mùi An Nam. Nhưng đến khi gặp Kim Ninh, con gái cụ Huấn, một cô gái tân thời rất đẹp, thì y đem lòng mê mẩn. Y tìm cách trò chuyện với Kim Ninh, nhưng vì Kim Ninh nhất định không chịu nói tiếng Pháp nên y buộc phải nói tiếng Việt. Y lấy lòng cha mẹ và cụ Huấn để qua đó vận động họ tác thành cho mình với Kim Ninh. Nhưng Kim Ninh đã có người yêu là Tham Tứ, lại khinh thường thói vong bản của cử Lân, nên nhất mực từ chối. Trước mặt mọi người, Kim Ninh làm cho cử Lân phải bộc lộ sự vong bản. Bị bẽ mặt, cử Lân trở lại nguyên hình một kẻ “Tây hoá”, tiếp tục khinh thường dân tộc mình. Y hùng hổ quát đầy tớ: “Theo tao sang Pháp mà làm người Âu châu!”.

“Ông Tây An Nam” cử Lân là hình tượng trung tâm của trí thức Tây học vong bản trong kịch Nam Xương, đồng thời là hình ảnh đã tha hoá của một bộ phận trí thức trong xã hội đương thời. Để có một nhân vật điển hình như vậy, nhà văn đã “dụng công” xây dựng cho suy nghĩ – hành động của y nhất quán từ ngoại hình đến thái độ, lời nói, hành vi. Cử Lân để lại ấn tượng đích thực là một kẻ vong bản, bất hiếu bất nghĩa ngay từ khi anh ta xuất hiện. Trước khi về nhà, y làm cho mẹ phải vào bóp cẩm, về đến nhà y hỏi đầy tớ về bố mình: “Quel est ce vieux font là?” (Người già nào mà điên thế này?). Trước những cử chỉ yêu thương của Cưu ông, y cầm mũi xoa phe phẩy trước mũi, làm như suýt chết ngạt vì “mùi bản xứ”. Rồi y nhất quyết không nói tiếng Việt, bắt Khiếu phải thông ngôn. Y khinh thường đạo lý mà bố y đang nhắc y phải nhớ, một mực khăng khăng mình là công dân của nước mẹ Pháp. Trắng trợn hơn, y đề nghị ông nếu muốn được giữ quyền làm cha thì phải thôi không làm người An Nam nữa. Cưu ông, Cưu bà phản ứng, thì y trả lời: “Này, tôi nói lại một lần nữa cho ông bố tôi nghe nữa này. Hai ông bà đẻ ra tôi, mất công nhọc nhằn mà nuôi tôi, cho tôi đi học, có phải tôi đã khiến ông bà đâu. Chẳng qua tình cờ mà ông bà có cái chức trách ấy. Ông bà còn oán gì thì cứ cái tình cờ ấy mà chửi” (cảnh 4 hồi 1). Tóm lại là y từ chối và khinh miệt tất cả những gì thuộc về quê hương – nơi y sinh ra và lớn lên. Đến mức y rủ Kim Ninh “bỏ quách cái giống nòi An nam đi, húi tóc ngắn, ăn mặc đầm, nói tiếng tây, sang tây mà ở bên ấy với anh mãi mãi ” (cảnh 9, hồi 2 ). Khi đã lấy lại được tình cảm của bố mẹ vì hứa sẽ không làm cho bố mẹ buồn – thực ra là để lấy được Kim Ninh, y lại lòi “cái đuôi” mất gốc ra, khi  nói với Cưu bà rằng sẽ sang Pháp thi tiến sĩ, về những phong tục mà Cưu bà vừa giảng giải cho y về việc cưới hỏi, y “sẽ tả như chỉ trắng thêu trên nền đen, rất mạnh mẽ, rất hùng hồn, cho ai cũng biết cái xấu của con cháu Hồng Bàng… Chính me sẽ được tả từng li từng tí, từ cái sự đội khăn, cái cách mặc yếm, cái tục ăn trầu của me!Chao ôi, cứ nghĩ cũng đủ tởm!”(cảnh 13, hồi 3). Sự vong bản của cử Lân không chỉ dừng ở vẻ ngoài, ở cách ăn nói, đi đứng, cư xử giống Tây, mà còn ăn sâu vào suy nghĩ của y. Nên trước Kim Ninh, cử Lân nói thẳng: “Không phải giả vờ cốt để lấy oai mà thôi đâu! Anh là người tây thì cái giả vờ ấy, tha thứ đi cho anh cũng được! Nhưng điều anh chủ tâm là làm cho tiệt cái hơi tiếng An nam ở trong mồm anh đi. Nên không những anh không muốn nói tiếng Nam, nghe tiếng Nam, mà đến tư tưởng bằng óc Việt Nam anh cũng không muốn nữa!” (cảnh 9, hồi 2). Ngay quan niệm về tình yêu và hôn nhân của cử Lân cũng hoàn toàn “tây hoá”, dù đang tán tỉnh Kim Ninh, nhưng y không ngần ngại nói thẳng quan niệm ấy, trước mặt cả Cưu ông, Cưu bà và cụ Huấn: “Em ạ, em lo xa quá! Yêu nhau ta hãy cứ yêu nhau, biết thế nào sau này mà liệu… Nghĩa là phải lấy tự do làm trọng. Lấy nhau mà như giàng buộc nhau lại, co quắp cả chân tay, thì thật là điên rồ! Anh em ta lấy nhau bây giờ, sau này có xa nhau chăng nữa, cô em càng tiện chứ sao! Lúc bây giờ có lấy thằng le bougre Tứ cũng được kia mà!” (cảnh 14, hồi 3). Đến khi bị từ chối, y trở lại là “tây” như trước, lại nói tiếng Pháp, lại bắt Khiếu phiên dịch, và y lại phủ nhận hoàn toàn những biểu hiện An Nam của mình trước đó, vì rằng, không khí thuộc địa làm y đãng trí.

Xoay quanh nhân vật này, trong kịch bản của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc còn có một số nhân vật khác cũng đáng chú ý, như nhân vật Đại Phong trong vở Chàng Ngốc. Đại Phong là hình ảnh một trí thức “thừa chữ”, một kiểu nhà văn gàn dở, có ít vốn liếng Tây, Tầu, luôn ra vẻ thông kim bác cổ, mở miệng là nói chữ, đến cả lời chửi cũng phải khoe chữ: “vừa rồi nó đã làm tôi mất thăng bằng, thật là không biết kính trọng cái đại – cà – xa của con nhà văn sĩ như tiên sinh và tôi, và bao giờ nó cũng chỉ là đồ ngu, đồ xuẩn, đồ mạt lưu xã hội, đồ canaille, populace, popolaccio, rabble, mob…” (cảnh 6, hồi 3). Những tưởng những triết lý đạo đức cao siêu có thể che khuất bản chất gã trí thức rởm đời này, nhưng đến khi cô Cỏn đề nghị y khuyên can Ngốc sinh đừng ép cô làm vợ, thì y  từ chối, vì “Ngốc sinh tuy không phải là người đa tình cho quý nương yêu nhưng là người tối đa tiền khiến cho ai ai cũng phục” (cảnh 8, hồi 5). Vậy là đến cuối vở kịch, y mới lộ rõ chân tướng “vì tiền” của mình. Một vở kịch khác của Nam Xương là Thuốc tê Ô Cấp lại khai thác vấn để của tầng lớp trí thức – văn nghệ sĩ ở một góc nhìn khác: chế độ kiểm duyệt mà đằng sau nó là quan hệ nghề nghiệp giữa các văn nghệ sĩ. Tua Rua là một văn sĩ kiêm nhân viên kiểm duyệt. Lợi dụng quyền hạn của mình, y tác oai tác quái. Y sẵn sàng gây khó khăn cho các đồng nghiệp  phủ nhận, dập vùi các tác phẩm của họ, nếu họ không chịu nịnh bợ luồn cúi y. Y tung ra tác phẩm kém cỏi của mình nhưng xem như khuôn vàng thước ngọc, bắt người khác phải ca tụng. Qua nhân vật Tua Rua, nhà văn muốn châm biếm những văn nghệ sĩ mà sự dốt nát đi liền với thói háo danh. Nhưng điều nguy hại hơn là, khi sự dốt nát, háo danh lại được hỗ trợ bởi quyền lực thì sẽ trở thành cái xấu, tha hồ tác oai tác quái, làm hại văn nghệ sĩ và cản trở các giá trị văn hoá đích thực. Việc dựng lên những nhân vật trí thức “rởm” như Đại Phong, Tua Rua vừa là phát hiện của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc về kiểu người này trong xã hội, vừa góp thêm hình ảnh phụ để làm nổi lên hình ảnh gã trí thức Tây học vong bản trong Ông Tây An Nam.

Nam Xương đã rất thành công trong việc xây dựng hình ảnh các trí thức tha hoá trong xã hội đương thời, đặc biệt là nhân vật điển hình như cử Lân “ông tây An Nam”. Có lẽ khi xây dựng nhân vật này, như dự định của ông trong lời tựa kịch bản: “là nhân vật riêng của xã hội nước nhà”, Nam Xương cũng không nghĩ rằng, Ông Tây An Nam lại có sức sống mạnh mẽ, lâu bền đến thế trong văn học và đời sống. Cụm từ “ông tây An Nam” đã trở thành một điển tích mới trong văn học hiện đại, có đời sống riêng trong tâm thức người Việt, trở thành một thành ngữ, mà nhắc tới nó, dù là người chưa đọc kịch bản, chưa xem vở diễn, thì cũng hiểu đó là thành ngữ chỉ một kẻ “Tây hoá” đến mức mất hết “gốc Việt”. Thành công Nam Xương có được, là do ông đã phát hiện, nhận thức – phản ánh một hiện tượng hết sức điển hình trong xã hội Việt Nam ở thời kỳ mà cuộc tiếp biến văn hoá Đông – Tây đã đưa tới các tác động ở cả hai mặt: tích cực và tiêu cực. Và một trong các tác động tiêu cực là đã sinh ra kiểu người vong bản đến dị hợm. Phải nói rằng, Cử Lân là sản phẩm kỳ quái của một bộ phận xã hội đã tự đánh mất những giá trị cổ truyền, thay vào đó là thái độ và lối sống vọng ngoại, với những tiêu chí sống hết sức xa lạ với bản sắc văn hoá. Về nghệ thuật, sự thành công của Nam Xương, ngoài khả năng sáng tạo của cá nhân và tình yêu văn hóa dân tộc, một phần còn do ông tuân thủ nghiêm nhặt “quy tắc kịch Âu tây” như ông theo đuổi, đó là các nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển và luật “ba duy nhất”. Vở kịch trở thành một dấu ấn quan trọng, đồng thời phản ánh một phương diện của quá trình tiếp nhận – biến đổi các giá trị văn hóa – nghệ thuật trong giao lưu với văn hóa – văn minh thế giới đã vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của quan hệ khu vực.

Từ góc độ văn hóa để xem xét, với kịch bản Ông Tây An Nam, Nam Xương đã sớm đưa ra lời cảnh báo về sự hoành hành của thói “vong bản”, về khả năng mai một của một số giá trị thuộc về bản sắc và truyền thống văn hóa nếu không được điều chỉnh kịp thời vào thời điểm giao lưu văn hóa với thế giới đã rộng mở. Điều này càng cho thấy tầm nhìn của ông về thời đại, về những biến chuyển văn hóa – văn minh mới đã và đang diễn ra ở Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua; nhất là trong giai đoạn hiện nay. Quá trình “mở cửa” giao lưu kinh tế, giao lưu văn hóa với thế giới ngày càng rộng mở và sự xâm nhập của các nền văn hoá khác nhau – trong đó một lần nữa lại là sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá – văn minh phương Tây – làm đảo lộn một số quan niệm và hành vi xã hội – văn hóa của con người; bên cạnh những tác động tích cực, đã và đang có những tác động tiêu cực làm băng hoại nền văn hoá – đạo lý dân tộc. Trong thế giới ngày nay, “bế quan tỏa cảng” là tự sát. Nhưng cũng trong thế giới ngày nay, nếu không có một bản lĩnh văn hóa vững vàng, một nội lực văn hóa mạnh mẽ, xã hội – con người hoàn toàn có khả năng bị đồng hóa với ý nghĩa là tự đánh mất mình, biến mình thành bản sao của người khác. Đó là lý do mà chúng ta thường nói tới câu chuyện “hòa nhập nhưng không hòa tan”. Trong bối cảnh ấy, ngược chiều thời gian để đánh giá sự nghiệp sáng tác kịch bản của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc, chúng ta càng thấy hình tượng nhân vật Ông Tây An Nam vẫn có ý nghĩa tích cực đối với hiện tại, không chỉ về phương diện nghệ thuật mà còn cả về văn hóa – xã hội – con người.

 

 

http://nguyenthuyquynh.vnweblogs.com/print/1580/102105

Một số hình ảnh về Bác Hồ (có kèm theo những câu thơ/ văn do Bác sáng tác)

Một số hình ảnh về Bác Hồ (có kèm theo những câu thơ/ văn do Bác sáng tác)

(sưu tầm)

__________________

Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao!

 

Bác Hồ và Tạ Đình Đề.

Người ta kể rằng : Vào một ngày đẹp trời , hôm ấy Bác Hồ sau khi giải quyết hết công việc ,Người rời phòng làm việc về phòng ăn sớm hơn mọi ngày.
Các đồng chí cận vệ chuẩn bị bữa trưa cho Bác . Khi mâm cơm đã chuẩn bị xong , trước khi ngồi vào bàn Bác nói với một anh cận vệ :
– Cho Bác xin thêm một cái bát và một đôi đũa nữa !
Mỗi lần Bác dùng cơm với người này , người khác Bác thường báo cho các cần vụ biết trước để tiện chuẩn bị nên anh cần vụ ngạc nhiên và hỏi lại :
— Thưa Bác, hôm nay Bác có khách ạ ?
Bác gật đầu và nói :
— Có , có chứ!
Mang bát đũa lên anh cần vụ còn hỏi thêm:
— Thưa Bác, khách hôm nay là ai, sao chưa tới nơi ?
Bác Hồ cười và nói :
— Khách đã đến từ lâu rồi mà các chú không biết nên không đón tiếp mời vào đấy thôi !
Các cán bộ cần vụ ngơ ngác nhìn Bác, chưa hiểu ý Bác nói gì , nhưng mặc dù đã đem thêm bát đũa lên, mà Bác vẫn chưa bắt đầu ăn, thì rõ ràng là Bác còn đợi ai đó rồi .Mọi người lấy làm lo lắng dòm trước, ngó sau song tuyệt nhiên không thấy ai vậy mà Bác bảo là khách đã đến từ lâu rồi !
Hiểu rõ ý nghĩ và tâm trạng của các cần vụ . Bác Hồ quay đầu hướng mắt về phía buồng ngủ, nói lớn tiếng:
— Xin mời anh Tạ Đình Đề vào ăn cơm trưa với tôi!
Các chiến sĩ cận vệ ngạc nhiên vô cùng. Cái tên mới nghe lần đầu, mà theo hướng nhìn của Hồ Chí Minh thì người ấy đang có mặt ở phía buồng ngủ của Bác, song không phải ở trong phòng, mà là… ở trên mái nhà. Mọi người lo lắng thật sự vì cứ như thái độ ,cử chỉ và lời nói của Bác Hồ thì quả thật có một tên Tạ Đình Đề nào đó đã lọt vào được bên trong khu vực cần bảo vệ này rồi.
Bác Hồ nhỏ nhẹ nói với các cần vụ :
— Người này tài tình lắm, các chú không đối phó nổi đâu.
Nói xong, Người quay đầu và hướng mắt về phía trên mái bếp, nói lớn tiếng:
— Tôi mời anh vào phòng ăn, sao anh lại chuyền sang nóc nhà bếp?
Giọng nói của Bác đầy trách móc, nhưng thân mật, vừa kẻ cả vừa tha thứ.
Theo phản xạ Cận vệ vừa rút súng ra khỏi bao, vừa chạy đến cầm ống nghe của máy điện thoại định gọi báo động, nhưng Bác đã ra hiệu gác máy, cất súng.
Các anh cận vệ vẫn ở trong tư thế sẵn sàng bảo vệ Bác , còn Bác Hồ vẫn bình tĩnh ngồi yên trên ghế, xoay nửa người hướng mắt về phía phòng khách, vừa nhìn xuyên qua mái đúc vách xây, vừa dõng dạc nói:
— Đấy, anh lại phi thân đến bên trên phòng khách rồi . Tôi thành thật khen anh giỏi ! Anh đã lọt vào được rồi, ngay giữa ban ngày, và mãi cho đến phút này vẫn chưa bị lộ… quả lài có tài

Thế rồi như tia chớp, một “ Ninh giang “(tức Ninja^^ -XQ) khỏe mạnh nhanh nhẹn đã bỗng nhảy xoẹt một cái từ trên mái lầu xuống sân, rồi lẹ làng phóng ngay vào trong phòng khách, xông tuốt vào trong phòng ăn, đứng ngay trước mặt Bác Hồ . Sau giây phút yên lặng nhìn nhau , Bác Hồ lên tiếng trước:
— Chào anh Tạ Đình Đề! Trông anh già dặn hơn trước nhiều, song có phần gầy ,đen hơn lúc mới ra trường !
Vị khách, trong bộ đồng phục giống như một môn phái võ nghiêng đầu đáp lễ và nói :Thưa Bác nếu tôi muốn, thì dù Bác có báo động và huy động toàn bộ lực lượng bảo vệ để truy bắt tôi, nhưng tôi vẫn có thể thoát khỏi nơi đây như thường được .
Bác Hồ đứng dậy ,tiến đến vị khách không mời chìa tay thân thiện nhìn với ánh mắt thật tươi. Bác chỉ ghế, mời Tạ Đình Đề ngồi xuống, bên bàn ăn.

Tạ Đình Đề vẫn đứng thẳng người, chắp hai tay trước bụng, lễ phép nói:
— Thưa Bác, trước hết tôi xin bày tỏ lòng khâm phục của tôi đối với Bác. Thú thật , đứng trước mặt Bác, tôi linh cảm có một sức mạnh vô hình thúc đẩy tôi phải đổi hẳn từ thế thù nghịch sang niềm kính yêu. Vậy tôi quyết định chấm dứt công tác của địch giao cho, và xin đặt mình dưới quyền sử dụng của Bác, kể từ hôm nay.
Bác Hồ tay tay lên vai Tạ Đình Đề như một cử chỉ thân thiện.
— Tôi hiểu, tôi tin anh, và tôi đồng ý nhận anh .

Tạ Đình Đề rút trong người ra một khẩu súng lục có gắn một ống giảm thanh, tháo những viên đạn có đầu sơn đỏ ra, cùng với một ống nhòm, một bản đồ Dinh Chủ Tịch, một số giấy tờ tùy thân được làm giả v.v… trao cho nhân viên cận vệ . Xong đâu đấy Tạ Đình Đề móc từ trong kẽ răng ra một viên thuốc độc dành cho mình trong trường hợp bại lộ đặt lên thành mâm cơm trên bàn ăn.
(st)

****
Hồi còn học phổ thông, mình được cô giáo kể về tài cảm hóa người khác (kể cả địch) của Bác Hồ. Cô giáo lấy ví dụ Bác đã cảm hóa được Tạ Đình Đề (một người được địch sai đi ám sát Bác Hồ)…
Thực hư xung quanh nhân vật này có rất nhiều giai thoại

 

http://ddhsonline.com/diendan/su-dia-gdcd/2470-ke-chuyen-tai-ngoai-giao-cua-bac-ho.html

 

Tư tưởng Hồ Chí MInh trong ngoại giao

Hồ Chủ tịch – vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước ta, luôn trăn trở, quan tâm, chỉ đạo từng bước đi của cách mạng Việt Nam. Đối với ngành Ngoại giao, người là tấm gương mẫu mực, là người thầy, người cha. Từng chữ, từng lời giáo huấn của Bác vẫn mang tính thời sự cho đến ngày nay.

Trong toàn bộ nội dung phong phú của tư tưởng Hồ Chí Minh, những tư tưởng về ngoại giao chiếm một vị trí quan trọng. Tư tưởng của Người, trí tuệ và đường lối quốc tế của Đảng, sức mạnh đoàn kết của toàn dân, kết hợp được với sức mạnh thời đại, là cội nguồn tạo nên những thành tựu vẻ vang trên mặt trận đối ngoại của Việt Nam.

Sự hình thành và phát triển của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời hoạt động của Người qua những giai đoạn lịch sử đầy biến cố, những thay đổi sâu sắc, lớn lao về nhiều mặt của đời sống thế giới và Việt Nam.

Độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế là nội dung cốt lõi trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nêu rõ, muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải giúp lấy mình đã; và tự lực cánh sinh là một truyền thống quý báu của cách mạng nước ta. Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với các trào lưu và lực lượng tiến bộ của thế giới, việc tăng cường các mối liên hệ và hợp tác quốc tế là một trong những điều giúp ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Sức mạnh của Việt Nam là ở sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân, là ở việc phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời ở việc đoàn kết tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế. Đó cũng chính là cơ sở để phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Quan niệm đoàn kết, hợp tác quốc tế là con đường hai chiều và trên cơ sở cùng có lợi. Sự nghiệp vẻ vang của nhân dân Việt Nam đóng góp vào thực hiện các mục tiêu chung của nhân dân tiến bộ thế giới. Người sớm nêu ra ý tưởng hợp tác cùng có lợi với tất cả các nước.

Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế. Người nêu rõ: Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Người thường nhắc nhở phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân ta giữ được lòng yêu mến, biết ơn các nước bạn anh em, phấn đấu tăng cường đoàn kết quốc tế, coi đó là “thiên kinh địa nghĩa” (điều vô cùng chính xác, không thể nghi ngờ).

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng đa dạng hóa – là bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai.

Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử ngoại giao dân tộc ta. Ngoại giao trở thành một mặt trận, triển khai khắp thế giới và ngay tại hậu phương của đối phương.

Là một trong những lực lượng nòng cốt của ngoại giao nước ta, ngoại giao nhân dân được triển khai từ cuộc kháng chiến lần thứ nhất và đạt tới đỉnh cao trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, là một bước phát triển độc đáo và sáng tạo của ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại, hiếm thấy trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Đồng thời, hoạt động ngoại giao luôn tùy thuộc vào sức mạnh tổng hợp của đất nước, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn.

Hồ Chí Minh có khả năng tiên tri, tiên liệu và dự cảm vượt thời gian. Những dự báo đúng đắn của Người về thời cơ, về khả năng phát triển và những bước ngoặt của tình hình thế giới và Việt Nam đều do phân tích các xu thế và thực tiễn khách quan thế giới và đất nước. Đó còn là kết quả của tinh thần cách mạng tiến công, như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận định: Tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là tư tưởng tiến công.

Là người vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt.

Hồ Chí Minh đã phát huy ngoại giao “tâm công” (đánh vào lòng người) – một truyền thống ngoại giao quý báu của ông cha ta nhằm không ngừng mở rộng tập hợp lực lượng, tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế. Trong kháng chiến cứu nước, Người luôn phân biệt nhân dân với giới cầm quyền các nước tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét qua việc vận dụng những phương pháp phong cách ứng xử nhạy bén, sáng tạo, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động đối ngoại. Nghệ thuật đó còn thể hiện trong việc thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (ngũ tri) của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét rằng Hồ Chí Minh là con người biết mình muốn gì và đi đến đâu, biết tránh thác ghềnh, biết thắng quân địch…, nắm vững nghệ thuật của điều có thể và không ngừng mở rộng giới hạn của điều có thể.

Người thân mật nhắc nhở “Nganh ngoại giao của ta còn non trẻ, đối với ta cái gì cũng mới, cái gì cũng phải học. Những điều ta làm được còn quá ít”“trình độ văn hoá và tri thức ngoại giao ta còn kém lắm”. Người khuyến khích động viên các cán bộ ngoại giao quyết tâm theo con đường dài học tập và tu dưỡng bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đất nước giao phó. Để nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, người đặc biệt nhấn mạnh việc “cán bộ ngoại giao từ thấp đến cao đều là đại diện cho dân tộc, là hình ảnh của đất nước Việt Nam ở nước ngoài”. Bởi vậy người cán bộ ngoại giao, trước tiên cần rèn luyện lập trường tư tưởng, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng phải nắm vững tình hình mọi mặt của nước sở tại, nơi mình công tác “Phải hiểu cả hai bên mới có thể làm tròn nhiệm vụ”. Về phương pháp công tác, Bác luôn căn dặn cán bộ ngoại giao phải làm điều tra, nghiên cứu nhưng cần đường hoàng, khéo léo, cẩn thận trong hành động và phát ngôn.

Người hết sức chú trọng đến vấn đề đào tạo “con người”. Người chỉ rõ trong buổi nói chuyện tại Hội nghị Ngoại giao lần 3 (tháng 1/1964), những phẩm chất đòi hỏi mỗi cán bộ ngoại giao “Một là phải có quan điểm và lập trường của Đảng làm kim chỉ nam. Hai là phải có tư cách đạo đức tốt, không để cá nhân lên trên lợi ích chung. Ba là về phương pháp công tác phải thận trọng, cảnh giác và giữ bí mật nhà nước. Bốn là phải có tinh thần học hỏi và tự lực cánh sinh, tiết kiệm. Năm là phải học tiếng nước ngoài. Công tác ở nước nào cần học tiếng của nước đó”. Người căn dặn cặn kẽ và chí lý, yếu tố con người, việc trang bị ngoại ngữ, luôn được coi là vũ khí quan trọng của nghề ngoại giao. Không biết hoặc không thông thạo tiếng nước sở tại thì khả năng nghiên cứu và giao tiếp sẽ bị hạn chế. Đặc biệt trong những tiếp xúc riêng bên lề hội nghị, một bữa tiệc, tiếp tân nào đó – một đặc thù của công tác ngoại giao – nếu không có ngoại ngữ vững, người cán bộ sẽ thiếu tự tin, dẫn đến mặc cảm, hạn chế trong hoạt động đối ngoại.

Đoàn kết nội bộ cũng là mối quan tâm của Bác. “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”, Bác nói nhiều đến vấn đề này ở các cơ quan đại diện mà theo Người biết còn chưa tốt. “Đó là vấn đề đoàn kết nội bộ. Ra ngoài, muốn công tác tốt, trước hết nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ… Phải thực hiện dân chủ nội bộ, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình, có tinh thần giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ. Người phụ trách cơ quan và người phụ trách từng bộ phận phải gương mẫu mọi mặt về công tác, đạo đức, tiết kiệm và đoàn kết”. Bác còn dặn dò các cơ quan đại diện ở nước ngoài, nơi có kiều bào và lưu học sinh “cần quan tâm đến họ để họ coi Sứ quán Việt Nam như một tiểu gia đình, đại diện cho đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Cán bộ Ngoại giao, đặc biệt các chú Đại sứ, cán bộ cao cấp phải thân mật, gần gũi, giúp đỡ, đoàn kết với họ…”

Hiện nay, khi những điều kiện quốc tế khác nhiều so với trước, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao sẽ mở ra khả năng rộng lớn để vận dụng thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đối ngoại mà Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đề ra, nhằm phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, không ngừng mở rộng hợp tác quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội và phát triển, chủ động hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế thế giới là nội dung cơ bản… Việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh còn đòi hỏi mỗi cán bộ ngoại giao không ngừng học tập nội dung tư tưởng, phương pháp, phong cách ngoại giao và ứng xử văn hóa của Người trong giao tiếp đối ngoại; rèn luyện bản lĩnh chính trị, năng lực, đạo đức, phẩm chất, kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa theo gương Bác Hồ vĩ đại.

http://www.dichvudoingoai.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=185:tu-tuong-ho-chi-minh-trong-ngoai-giao&catid=95:chien-luoc-phat-trien&Itemid=589

Tư tưởng hồ chí minh về ngoại giao

Là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam, là hệ thống các quan điểm lý luận về các vấn đề quốc tế, đường lối và chính sách đối ngoại Việt Nam. Những nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nêu cao các quyền dân tộc cơ bản như độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thông nhất đất nước; đề cao đạo lý, chính nghĩa và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế; bảo vệ hòa bình và chống chiến tranh xâm lược; độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại (mở rộng tập hợp lực lượng quốc tế, thêm bạn, bớt thù); quan hệ đối ngoại rộng mở, cùng có lợi, làm bạn với mọi nước dân chủ, không thù oán với một ai; quan tâm xây dựng, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu bền với các nước láng giềng; coi trọng xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn; và ngoại giao là một mặt trận.

Từ khi đất nước tiến hành công cuộc Đổi mới (1986), ngoại giao Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, với nhiệm vụ chủ yếu là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Phát huy truyền thống dân tộc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao trong tình hình mới, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Kể từ đó, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa liên tục được bổ sung, hoàn chỉnh, được thực hiện nhất quán, linh hoạt với tinh thần “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”.

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 170 quốc gia và hầu hết các tổ chức quốc tế quan trọng; có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư… với 165 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhiều hiệp định, thỏa thuận song phương và đa phương đã được ký kết, trong đó có 87 Hiệp định thương mại song phương; 48 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương và nhiều hiệp định đa phương khác trên hầu hết các lĩnh vực. Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có quan hệ bình thường với tất cả các cường quốc trên thế giới; quan hệ đối ngoại của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đa dạng hóa và không ngừng đi vào chiều sâu.

 

http://demo2.dtn.com.vn/apeccd/cd/html/vi/c3/3_2_tthcmvng.html