Nhìn lại hình tượng nhân vật Ông Tây An Nam

Gần tám mươi năm trước, vở kịch  “Ông Tây An Nam ” với một hình tượng nhân vật độc đáo đã gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam đầu thế kỷ XX. Từ đó tới nay, cụm từ “ông tây An Nam” đã trở thành một điển tích mới trong văn học hiện đại, có đời sống riêng trong tâm thức người Việt, mà nhắc tới nó, thì ai cũng hiểu đó là cụm từ chỉ một kẻ “Tây hoá” đến mức mất hết “gốc Việt”.

Tuy vậy, người sáng tạo ra hình tượng nhân vật độc đáo ấy thì không phải ai cũng biết. Đó là nhà văn đồng thời là người chiến sĩ cách mạng ưu tú Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc.

 

                                                                 

Nhắc đến thế hệ giữ vai trò mở đường, lập nên nền kịch nói Việt Nam, thì cùng với các tác giả Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền,… không thể không nhắc đến Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc, người không chỉ có một nhân cách rất đáng trọng, mà còn có những sáng tạo nghệ thuật thành công ngay khi mới xuất hiện. Nam Xương (1905 – 1958) tên thật là Nguyễn Cát Ngạc, quê ông ở xã Phù Khê (Từ Sơn – Bắc Ninh). Trong gia tộc, ông là anh em ruột với thân sinh nhà sử học Nguyễn Lương Bích, và là chú họ đồng chí Nguyễn Văn Cừ. Với lòng yêu nước sâu sắc, ông sớm dấn thân vào phong trào yêu nước, rồi gia nhập đội ngũ của những người cộng sản. Ông đã hai lần nhận án tử hình của Nhật và Pháp, và cuối cùng ông đã hy sinh ở miền Nam vào năm 1958, với cương vị là chiến sĩ tình báo cách mạng và được truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công năm 1976. Thời Pháp thuộc, là kỹ sư công chính nhưng ông lại say mê văn chương, đặc biệt là say mê viết kịch. Ông thuộc thế hệ đầu tiên đưa kịch nói đến với sân khấu Việt Nam trong tư cách là một thể loại mới, chưa từng có trong lịch sử nghệ thuật dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, do nhận thức được yêu cầu tư tưởng – thẩm mỹ mới trong sáng tạo nghệ thuật, các tác giả kịch bản thuộc thế hệ đầu tiên ở Việt Nam như Trương Ái Chủng, Nguyễn Hữu Kim, Vũ Đình Long, … ngay từ đầu đã đi theo khuynh hướng phê phán hiện thực. Họ đưa lên sân khấu bức tranh đầy nghịch cảnh của một xã hội ở buổi giao thời với sự đối lập giữa nghèo đói và phè phỡn, giữa văn hóa và sự lố bịch, vong bản. Và Ông Tây An Nam của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc là một trong những tác phẩm điển hình của khuynh hướng này.

Ông Tây An Nam là kịch bản được viết vào năm 1931, chuyện kịch xảy ra trong gia đình Cưu ông. Cưu ông chuộng danh giá, cho con là Lân sang Pháp học, đỗ cử nhân. Nhưng sau khi nhập làng Tây, cử Lân lại quay sang khinh bỉ dân tộc mình. Về nước, mẹ là Cưu bà ra đón, y không thèm nhận bà mẹ bản xứ quê mùa, liền vu cho bà là kẻ cắp, gọi “cẩm” cho bà vào “bóp”. Y không về nghỉ ở nhà cha mẹ mà thuê khách sạn ở, vì ghê sợ sinh hoạt của người An Nam. Về thăm nhà, y chỉ nói tiếng Pháp, bắt gã hầu phiên dịch ra tiếng Việt. Y sỉ mắng, nhục mạ mọi người, kể cả cha mẹ. Y nói với cụ Huấn, một người họ hàng xa với Cưu bà rằng: “Ma patrie est la France, je suis Francais” (Tổ quốc tôi là Đại Pháp, tôi là người Đại Pháp). Cha mẹ mời ăn cơm y không ăn, mời uống nước y cũng không uống, vì sợ mùi An Nam. Nhưng đến khi gặp Kim Ninh, con gái cụ Huấn, một cô gái tân thời rất đẹp, thì y đem lòng mê mẩn. Y tìm cách trò chuyện với Kim Ninh, nhưng vì Kim Ninh nhất định không chịu nói tiếng Pháp nên y buộc phải nói tiếng Việt. Y lấy lòng cha mẹ và cụ Huấn để qua đó vận động họ tác thành cho mình với Kim Ninh. Nhưng Kim Ninh đã có người yêu là Tham Tứ, lại khinh thường thói vong bản của cử Lân, nên nhất mực từ chối. Trước mặt mọi người, Kim Ninh làm cho cử Lân phải bộc lộ sự vong bản. Bị bẽ mặt, cử Lân trở lại nguyên hình một kẻ “Tây hoá”, tiếp tục khinh thường dân tộc mình. Y hùng hổ quát đầy tớ: “Theo tao sang Pháp mà làm người Âu châu!”.

“Ông Tây An Nam” cử Lân là hình tượng trung tâm của trí thức Tây học vong bản trong kịch Nam Xương, đồng thời là hình ảnh đã tha hoá của một bộ phận trí thức trong xã hội đương thời. Để có một nhân vật điển hình như vậy, nhà văn đã “dụng công” xây dựng cho suy nghĩ – hành động của y nhất quán từ ngoại hình đến thái độ, lời nói, hành vi. Cử Lân để lại ấn tượng đích thực là một kẻ vong bản, bất hiếu bất nghĩa ngay từ khi anh ta xuất hiện. Trước khi về nhà, y làm cho mẹ phải vào bóp cẩm, về đến nhà y hỏi đầy tớ về bố mình: “Quel est ce vieux font là?” (Người già nào mà điên thế này?). Trước những cử chỉ yêu thương của Cưu ông, y cầm mũi xoa phe phẩy trước mũi, làm như suýt chết ngạt vì “mùi bản xứ”. Rồi y nhất quyết không nói tiếng Việt, bắt Khiếu phải thông ngôn. Y khinh thường đạo lý mà bố y đang nhắc y phải nhớ, một mực khăng khăng mình là công dân của nước mẹ Pháp. Trắng trợn hơn, y đề nghị ông nếu muốn được giữ quyền làm cha thì phải thôi không làm người An Nam nữa. Cưu ông, Cưu bà phản ứng, thì y trả lời: “Này, tôi nói lại một lần nữa cho ông bố tôi nghe nữa này. Hai ông bà đẻ ra tôi, mất công nhọc nhằn mà nuôi tôi, cho tôi đi học, có phải tôi đã khiến ông bà đâu. Chẳng qua tình cờ mà ông bà có cái chức trách ấy. Ông bà còn oán gì thì cứ cái tình cờ ấy mà chửi” (cảnh 4 hồi 1). Tóm lại là y từ chối và khinh miệt tất cả những gì thuộc về quê hương – nơi y sinh ra và lớn lên. Đến mức y rủ Kim Ninh “bỏ quách cái giống nòi An nam đi, húi tóc ngắn, ăn mặc đầm, nói tiếng tây, sang tây mà ở bên ấy với anh mãi mãi ” (cảnh 9, hồi 2 ). Khi đã lấy lại được tình cảm của bố mẹ vì hứa sẽ không làm cho bố mẹ buồn – thực ra là để lấy được Kim Ninh, y lại lòi “cái đuôi” mất gốc ra, khi  nói với Cưu bà rằng sẽ sang Pháp thi tiến sĩ, về những phong tục mà Cưu bà vừa giảng giải cho y về việc cưới hỏi, y “sẽ tả như chỉ trắng thêu trên nền đen, rất mạnh mẽ, rất hùng hồn, cho ai cũng biết cái xấu của con cháu Hồng Bàng… Chính me sẽ được tả từng li từng tí, từ cái sự đội khăn, cái cách mặc yếm, cái tục ăn trầu của me!Chao ôi, cứ nghĩ cũng đủ tởm!”(cảnh 13, hồi 3). Sự vong bản của cử Lân không chỉ dừng ở vẻ ngoài, ở cách ăn nói, đi đứng, cư xử giống Tây, mà còn ăn sâu vào suy nghĩ của y. Nên trước Kim Ninh, cử Lân nói thẳng: “Không phải giả vờ cốt để lấy oai mà thôi đâu! Anh là người tây thì cái giả vờ ấy, tha thứ đi cho anh cũng được! Nhưng điều anh chủ tâm là làm cho tiệt cái hơi tiếng An nam ở trong mồm anh đi. Nên không những anh không muốn nói tiếng Nam, nghe tiếng Nam, mà đến tư tưởng bằng óc Việt Nam anh cũng không muốn nữa!” (cảnh 9, hồi 2). Ngay quan niệm về tình yêu và hôn nhân của cử Lân cũng hoàn toàn “tây hoá”, dù đang tán tỉnh Kim Ninh, nhưng y không ngần ngại nói thẳng quan niệm ấy, trước mặt cả Cưu ông, Cưu bà và cụ Huấn: “Em ạ, em lo xa quá! Yêu nhau ta hãy cứ yêu nhau, biết thế nào sau này mà liệu… Nghĩa là phải lấy tự do làm trọng. Lấy nhau mà như giàng buộc nhau lại, co quắp cả chân tay, thì thật là điên rồ! Anh em ta lấy nhau bây giờ, sau này có xa nhau chăng nữa, cô em càng tiện chứ sao! Lúc bây giờ có lấy thằng le bougre Tứ cũng được kia mà!” (cảnh 14, hồi 3). Đến khi bị từ chối, y trở lại là “tây” như trước, lại nói tiếng Pháp, lại bắt Khiếu phiên dịch, và y lại phủ nhận hoàn toàn những biểu hiện An Nam của mình trước đó, vì rằng, không khí thuộc địa làm y đãng trí.

Xoay quanh nhân vật này, trong kịch bản của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc còn có một số nhân vật khác cũng đáng chú ý, như nhân vật Đại Phong trong vở Chàng Ngốc. Đại Phong là hình ảnh một trí thức “thừa chữ”, một kiểu nhà văn gàn dở, có ít vốn liếng Tây, Tầu, luôn ra vẻ thông kim bác cổ, mở miệng là nói chữ, đến cả lời chửi cũng phải khoe chữ: “vừa rồi nó đã làm tôi mất thăng bằng, thật là không biết kính trọng cái đại – cà – xa của con nhà văn sĩ như tiên sinh và tôi, và bao giờ nó cũng chỉ là đồ ngu, đồ xuẩn, đồ mạt lưu xã hội, đồ canaille, populace, popolaccio, rabble, mob…” (cảnh 6, hồi 3). Những tưởng những triết lý đạo đức cao siêu có thể che khuất bản chất gã trí thức rởm đời này, nhưng đến khi cô Cỏn đề nghị y khuyên can Ngốc sinh đừng ép cô làm vợ, thì y  từ chối, vì “Ngốc sinh tuy không phải là người đa tình cho quý nương yêu nhưng là người tối đa tiền khiến cho ai ai cũng phục” (cảnh 8, hồi 5). Vậy là đến cuối vở kịch, y mới lộ rõ chân tướng “vì tiền” của mình. Một vở kịch khác của Nam Xương là Thuốc tê Ô Cấp lại khai thác vấn để của tầng lớp trí thức – văn nghệ sĩ ở một góc nhìn khác: chế độ kiểm duyệt mà đằng sau nó là quan hệ nghề nghiệp giữa các văn nghệ sĩ. Tua Rua là một văn sĩ kiêm nhân viên kiểm duyệt. Lợi dụng quyền hạn của mình, y tác oai tác quái. Y sẵn sàng gây khó khăn cho các đồng nghiệp  phủ nhận, dập vùi các tác phẩm của họ, nếu họ không chịu nịnh bợ luồn cúi y. Y tung ra tác phẩm kém cỏi của mình nhưng xem như khuôn vàng thước ngọc, bắt người khác phải ca tụng. Qua nhân vật Tua Rua, nhà văn muốn châm biếm những văn nghệ sĩ mà sự dốt nát đi liền với thói háo danh. Nhưng điều nguy hại hơn là, khi sự dốt nát, háo danh lại được hỗ trợ bởi quyền lực thì sẽ trở thành cái xấu, tha hồ tác oai tác quái, làm hại văn nghệ sĩ và cản trở các giá trị văn hoá đích thực. Việc dựng lên những nhân vật trí thức “rởm” như Đại Phong, Tua Rua vừa là phát hiện của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc về kiểu người này trong xã hội, vừa góp thêm hình ảnh phụ để làm nổi lên hình ảnh gã trí thức Tây học vong bản trong Ông Tây An Nam.

Nam Xương đã rất thành công trong việc xây dựng hình ảnh các trí thức tha hoá trong xã hội đương thời, đặc biệt là nhân vật điển hình như cử Lân “ông tây An Nam”. Có lẽ khi xây dựng nhân vật này, như dự định của ông trong lời tựa kịch bản: “là nhân vật riêng của xã hội nước nhà”, Nam Xương cũng không nghĩ rằng, Ông Tây An Nam lại có sức sống mạnh mẽ, lâu bền đến thế trong văn học và đời sống. Cụm từ “ông tây An Nam” đã trở thành một điển tích mới trong văn học hiện đại, có đời sống riêng trong tâm thức người Việt, trở thành một thành ngữ, mà nhắc tới nó, dù là người chưa đọc kịch bản, chưa xem vở diễn, thì cũng hiểu đó là thành ngữ chỉ một kẻ “Tây hoá” đến mức mất hết “gốc Việt”. Thành công Nam Xương có được, là do ông đã phát hiện, nhận thức – phản ánh một hiện tượng hết sức điển hình trong xã hội Việt Nam ở thời kỳ mà cuộc tiếp biến văn hoá Đông – Tây đã đưa tới các tác động ở cả hai mặt: tích cực và tiêu cực. Và một trong các tác động tiêu cực là đã sinh ra kiểu người vong bản đến dị hợm. Phải nói rằng, Cử Lân là sản phẩm kỳ quái của một bộ phận xã hội đã tự đánh mất những giá trị cổ truyền, thay vào đó là thái độ và lối sống vọng ngoại, với những tiêu chí sống hết sức xa lạ với bản sắc văn hoá. Về nghệ thuật, sự thành công của Nam Xương, ngoài khả năng sáng tạo của cá nhân và tình yêu văn hóa dân tộc, một phần còn do ông tuân thủ nghiêm nhặt “quy tắc kịch Âu tây” như ông theo đuổi, đó là các nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển và luật “ba duy nhất”. Vở kịch trở thành một dấu ấn quan trọng, đồng thời phản ánh một phương diện của quá trình tiếp nhận – biến đổi các giá trị văn hóa – nghệ thuật trong giao lưu với văn hóa – văn minh thế giới đã vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của quan hệ khu vực.

Từ góc độ văn hóa để xem xét, với kịch bản Ông Tây An Nam, Nam Xương đã sớm đưa ra lời cảnh báo về sự hoành hành của thói “vong bản”, về khả năng mai một của một số giá trị thuộc về bản sắc và truyền thống văn hóa nếu không được điều chỉnh kịp thời vào thời điểm giao lưu văn hóa với thế giới đã rộng mở. Điều này càng cho thấy tầm nhìn của ông về thời đại, về những biến chuyển văn hóa – văn minh mới đã và đang diễn ra ở Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua; nhất là trong giai đoạn hiện nay. Quá trình “mở cửa” giao lưu kinh tế, giao lưu văn hóa với thế giới ngày càng rộng mở và sự xâm nhập của các nền văn hoá khác nhau – trong đó một lần nữa lại là sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá – văn minh phương Tây – làm đảo lộn một số quan niệm và hành vi xã hội – văn hóa của con người; bên cạnh những tác động tích cực, đã và đang có những tác động tiêu cực làm băng hoại nền văn hoá – đạo lý dân tộc. Trong thế giới ngày nay, “bế quan tỏa cảng” là tự sát. Nhưng cũng trong thế giới ngày nay, nếu không có một bản lĩnh văn hóa vững vàng, một nội lực văn hóa mạnh mẽ, xã hội – con người hoàn toàn có khả năng bị đồng hóa với ý nghĩa là tự đánh mất mình, biến mình thành bản sao của người khác. Đó là lý do mà chúng ta thường nói tới câu chuyện “hòa nhập nhưng không hòa tan”. Trong bối cảnh ấy, ngược chiều thời gian để đánh giá sự nghiệp sáng tác kịch bản của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc, chúng ta càng thấy hình tượng nhân vật Ông Tây An Nam vẫn có ý nghĩa tích cực đối với hiện tại, không chỉ về phương diện nghệ thuật mà còn cả về văn hóa – xã hội – con người.

 

 

http://nguyenthuyquynh.vnweblogs.com/print/1580/102105

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: