Quyết định số 28/2005/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/02/2005

Quyết định số 28/2005/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/02/2005
Ngày 01 tháng 02 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/2005/QĐ-TTG về quy chế thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

QUY CHẾ

THỐNG NHẤT QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
CỦA CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

(Ban hành kèm theo Quyết định số 28 /2005/QĐ-TTg ngày  01 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ)

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định việc thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh).

Điều 2. Nội dung của hoạt động đối ngoại

Hoạt động đối ngoại quy định trong Quy chế này bao gồm các nội dung sau:

1. Các hoạt động giao lưu với nước ngoài về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao.

2. Quản lý các đoàn đi công tác nước ngoài (đoàn ra) và đón tiếp các đoàn nước ngoài, đoàn quốc tế vào Việt Nam (đoàn vào).

3. Ký kết và thực hiện các thoả thuận quốc tế.

4. Tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế.

5. Tiếp nhận huân chương, huy chương hoặc danh hiệu khác của tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế tặng.

6. Hoạt động đối ngoại liên quan đến biên giới lãnh thổ; giải quyết các tình huống phức tạp trong quan hệ với nước ngoài.

7. Quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó có việc tiếp nhận các dự án nước ngoài.

8. Tổng hợp tình hình và thông tin tuyên truyền đối ngoại.

9. Quản lý các tổ chức, cá nhân người nước ngoài ở địa phương.

10. Bồi dưỡng nghiệp vụ đối ngoại.

Điều 3. Nguyên tắc hoạt động đối ngoại

1. Bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của đảng, sự quản lý và điều hành thống nhất của Nhà nước về công tác đối ngoại của địa phương, sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa phương và Trung ương, nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của đảng và Nhà nước.

2. Kết hợp chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và thông tin liên quan đến đối ngoại ở các tỉnh.

3. Phân công, phân nhiệm rõ ràng, đề cao trách nhiệm và vai trò chủ động của các ngành, các cấp ở địa phương trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến đối ngoại, bảo đảm sự đồng bộ, kiểm tra, giám sát chặt chẽ.

4. Hoạt động đối ngoại được thực hiện theo chương trình hàng năm đó được duyệt, bảo đảm nghiêm túc chế độ báo cáo, xin ý kiến theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG II
THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC QUYẾT ĐỊNH
VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Điều 4. Thẩm quyền quyết định về hoạt động đối ngoại

1. Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt chương trình hoạt động đối ngoại hàng năm của Uỷ ban nhân dân tỉnh bao gồm các nội dung cụ thể sau:

a) Việc đi công tác nước ngoài của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Việc đón tiếp các đoàn cấp cao nước ngoài vào thăm Việt Nam theo lời mời của Uỷ ban nhân dân tỉnh từ cấp Bộ trưởng, Tỉnh trưởng của nước ngoài trở lên;

c) Việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế của Uỷ ban nhân dân tỉnh theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 122/2001/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2001 của Thủ tưởng Chính phủ về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam;

d) Việc ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế của Uỷ ban nhân dân tỉnh theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 20/2002/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2002 của Chính phủ về ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Việc Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh nhận Huân chương, Huy chương và các danh hiệu khác của nước ngoài.

e) Các hoạt động đối ngoại khác thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định hiện hành của pháp luật.

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh tự quyết định và chịu trách nhiệm về các hoạt động đối ngoại của địa phương gồm:

a) Cử cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý đi công tác nước ngoài theo quy định tại khoản 2 và Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 05/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam;

b) Việc mời các đoàn nước ngoài vào thăm, làm việc với tỉnh từ cấp Thứ trưởng, Phó Tỉnh trưởng nước ngoài trở xuống;

c) Việc tổ chức, hội nghị, hội thảo quốc tế theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Quyết định số 122/2001/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam;

d) Việc ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 20/2002/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2002 của Chính phủ về ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Việc tiếp nhận, ký kết và thực hiện các dự án của tổ chức phi chính phủ và cá nhân nước ngoài căn cứ Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài ban hành kèm theo Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2001 của Thủ tưởng Chính phủ và các quy định pháp luật khác có liên quan.

e) Việc tiếp nhận huân, huy chương và các danh hiệu khác của tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tặng cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể ủy quyền quyết định các việc nêu tại khoản 2 điều này cho Thủ trưởng các sở, ban, ngành thuộc tỉnh. Việc ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi ủy quyền, chữ ký của người được ủy quyền, giới thiệu con dấu. Văn bản ủy quyền được gửi cho Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ.

4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ động quyết định các hoạt động đối ngoại phỏt sinh thuộc thẩm quyền và cần xin ý kiến của Thủ tưởng Chính phủ, Bộ Ngoại giao và các Bộ, cơ quan khác trong các hoạt động đối ngoại liên quan đến các vấn đề  nhạy cảm, phức tạp như: tôn giáo, dân tộc, quan hệ đối ngoại với một số đối tác nước ngoài đặc biệt.

5. Việc đi công tác nước ngoài của Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 42 Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ.

Điều 5. Xây dựng và phê duyệt Chương trình hoạt động đối ngoại

1. Quý IV hàng năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ động xây dựng dự thảo Chương trình hoạt động đối ngoại cho năm sau của địa phương mình. Đối với các vấn đề đối ngoại phức tạp, nhạy cảm, Uỷ ban nhân dân tỉnh phải tham khảo ý kiến của Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành liên quan.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm gửi dự thảo chương trình hoạt động đối ngoại cho Bộ Ngoại giao trước ngày 05 tháng 11 hàng năm. Bộ Ngoại giao tổng hợp chương trình hoạt động đối ngoại của tất cả các tỉnh trình Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt chậm nhất là trước cuối tháng 11 hàng năm.

3. Nội dung chương trình hoạt động đối ngoại của Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt thông qua Bộ Ngoại giao được xây dựng can cứ theo khoản 1 Điều 4 của Quy chế này.

4. Đối với việc sửa đổi, bổ sung chương trình hoạt động đối ngoại đó được duyệt, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Trình Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt đối với những hoạt động đối ngoại theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Quy chế này;

b) Chủ động quyết định thực hiện các hoạt động đối ngoại thuộc thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Quy chế này.

Điều 6. Thực hiện chương trình đối ngoại đã được phê duyệt

Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ động triển khai thực hiện chương trình đối ngoại hàng năm đó được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Riêng đối với các đoàn ra, đoàn vào theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Quy chế này, 02 tuần trước khi thực hiện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh cần thông báo cho Bộ Ngoại giao kế hoạch thực hiện cụ thể để Bộ cho ý kiến cập nhật trước khi triển khai. Trường hợp đặc biệt cần phải thay đổi kế hoạch, Bộ Ngoại giao trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

CHƯƠNG III
THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỐI  NGOẠI CỤ THỂ

Điều 7. Tổ chức và quản lý đoàn đi công tác nước ngoài

Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm theo dõi, quản lý việc đi nước ngoài đối với các cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý; hướng dẫn các đoàn đi công tác liên hệ, tham khảo ý kiến các cơ quan trong nước có liên quan và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trước và trong thời gian hoạt động ở nước ngoài; kịp thời phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan xử lý những vấn đề nhậy cảm, phức tạp nẩy sinh trong quá trình đoàn đi công tác nước ngoài.

Điều 8. Tổ chức và quản lý các đoàn quốc tế đến thăm địa phương

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cụ thể và phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành liên quan đó đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm địa phương.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ động triển khai các kế hoạch đón tiếp; theo dõi, thống kê, và thông qua Bộ Ngoại giao báo cáo Thủ tướng Chính phủ hoạt động của các đoàn khách quốc tế tại địa phương.

Điều 9. Hoạt động đối ngoại liên quan đến biên giới lãnh thổ quốc gia

Các tỉnh có đường biên giới lãnh thổ quốc gia có trách nhiệm nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá tình hình quản lý biên giới và trực tiếp phối hợp với Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành có liên quan trong mọi hoạt động liên quan đến biên giới quốc gia theo các quy định pháp luật về quản lý biên giới quốc gia.

Điều 10. Hoạt động đối ngoại liên quan đến công tác về người Việt Nam ở nước ngoài

Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc nghiên cứu, đánh giá công tác về người Việt Nam ở nước ngoài trên địa bàn địa phương mình, phối hợp với Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) đề xuất và xây dựng các chính sách về công tác này; trực tiếp tham gia việc hỗ trợ, hướng dẫn, thông tin, tuyên truyền, vận động và thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân của họ có quan hệ với địa phương.

Điều 11. Quản lý hoạt động của cá nhân, tổ chức nước ngoài

Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm hướng dẫn, quản lý hoạt động của các cá nhân, tổ chức nước ngoài trên địa bàn địa phương mình; bảo vệ, hỗ trợ và hướng dẫn họ tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc làm ăn, sinh sống, học tập, công tác, du lịch, kinh doanh, đầu tư… tại Việt Nam; xử lý các tình huống nảy sinh liên quan đến cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Điều 12. Tổng hợp tình hình và thông tin tuyên truyền đối ngoại

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh giao trách nhiệm cho cơ quan ngoại vụ tỉnh và các sở, ban, ngành có liên quan hoặc trực tiếp hoặc hợp tác với các cơ quan trung ương thực hiện việc thu thập, phân tích, tổng hợp các thông tin về tình hình chính trị – an ninh, kinh tế quốc tế và khu vực tác động đến địa phương và về các hoạt động đối ngoại của tỉnh, báo cáo và đề xuất lên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phương hướng và giải pháp thực hiện.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại trên cơ sở Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại và các văn bản pháp luật có liên quan khác.

3. Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm trao đổi, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan trong việc đón tiếp các hãng thông tấn và phóng viên nước ngoài thăm, phỏng vấn các đồng chí lãnh đạo đảng và chính quyền địa phương.

Điều 13. Hoạt động kinh tế đối ngoại

1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về mọi hoạt động kinh tế đối ngoại trên địa bàn tỉnh.

2. Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm nắm bắt tình hình kinh tế trong và ngoài nước có tác động tới địa phương; chịu trách nhiệm lựa chọn các đối tác nước ngoài, trong trường hợp cần thiết có thể đề nghị Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan giúp thẩm tra các đối tác này; trực tiếp tham gia công tác xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch; chủ động trong công tác xây dựng môi trường đầu tư phù hợp với đặc điểm của địa phương.

3. Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tham khảo ý kiến của các Bộ, ngành và cơ quan liên quan đối với những vấn đề kinh tế đối ngoại đặc biệt, phức tạp trước khi trình Thủ tướng Chính phủ.

Điều 14. Tổ chức hội nghị, hội thảo, ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế, tiếp nhận các dự án nước ngoài

Uỷ ban nhân dân tỉnh nghiêm chỉnh thực hiện các quy định pháp luật hiện hành về tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, việc ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế và việc tiếp nhận các dự án do nước ngoài tài trợ như đã quy định tại khoản 2 Điều 4 của Quy chế này. Đối với những vấn đề phát sinh liên quan đến chính trị đối ngoại, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần tham khảo ý kiến của Bộ Ngoại giao và Ban đối ngoại Trung ương Đảng.

Điều 15. Bồi dưỡng nghiệp vụ đối ngoại

Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức đối ngoại tại địa phương; phối hợp với Bộ Ngoại giao để đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại của địa phương.

Điều 16. Báo cáo tình hình thực hiện các hoạt động đối ngoại

1. Định kỳ 6 tháng, hàng năm và trong trường hợp đột xuất, Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đối ngoại của địa phương đến Bộ Ngoại giao để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Báo cáo định kỳ nêu trên gửi đến Bộ Ngoại giao trước ngày 01 tháng 6 (đối với báo cáo 6 tháng) và trước ngày 01 tháng 12 (đối với báo cáo hàng năm) để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ.

2. Mỗi khi kết thúc một hoạt động đối ngoại tại địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định về hoạt động đối ngoại đó đồng thời thông báo kết quả cho Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan và đề xuất chủ trương, giải pháp của tỉnh đối với những vấn đề có liên quan.

CHƯƠNG IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 17. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan liên quan và địa phương

1. Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các địa phương thực hiện Quy chế này.

2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm hướng dẫn và chỉ đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình đối ngoại của địa phương.

3. Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ vào Quy chế này xây dựng Quy định về tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động đối ngoại tại địa phương.

4. Căn cứ vào Điều 9 của Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2004 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ động sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan ngoại vụ tỉnh và giao trách nhiệm cho cơ quan này thực hiện nhiệm vụ đối ngoại của địa phương.

Điều 18. Điều khoản thi hành

Trong quá trình thực hiện Quy chế này, nếu có vướng mắc, khó khăn, Uỷ ban nhân dân tỉnh phản ánh kịp thời về Bộ Ngoại giao để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Các quy định trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ.

http://www.haiphongdofa.gov.vn/vn/index.asp?menuid=450&parent_menuid=416&fuseaction=3&articleid=1448

Chính sách đối ngoại: MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI, CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chính sách đối ngoại: MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI, CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền.

Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”. Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới. Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế – xã hội.

Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.

Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á – Thái Bình Dương… Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch. Cải thiện môi trường đầu tư; thu hút các nguồn vốn FDI, ODA, đầu tư gián tiếp, tín dụng thương mại và các nguồn vốn khác. Xác định đúng mục tiêu sử dụng và đẩy nhanh việc giải ngân nguồn vốn ODA, cải tiến phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và có kế hoạch trả nợ đúng hạn; duy trì tỉ lệ vay nợ nước ngoài hợp lý, an toàn.

Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài.

Đẩy mạnh công tác văn hoá – thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước.

Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt.

Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại với sự tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học.

Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng và an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước.

(trích Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng)

http://www.haiphongdofa.gov.vn/vn/index.asp?menuid=416&parent_menuid=416&fuseaction=3&articleid=2585

Công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế

Công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế
Phó Thủ tướng Vũ Khoan

Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới gần đây, công tác ngoại giao phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế đang đứng trước những nhiệm vụ cụ thể không thể thoái thác.

Năm 1985, được sự chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước (các Đồng chí Lê Duẩn, Tố Hữu, Đỗ Mười…), công tác ngoại giao phục vụ kinh tế  được chính thức xác định là nhiệm vụ chính của Ngành ngoại giao và được thảo luận sâu sắc và  rộng rãi.  Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới và  mục tiêu ”dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” được coi là lợi ích cao nhất. Từ đó đến nay, công tác ngoại giao phục vụ kinh tế  luôn được thảo luận tại các Hội nghị ngành và tập trung hướng vào việc đa phương, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, phá thế bao vây, cấm vận của phương Tây, mở rộng thị trường, tranh thủ viện trợ, đầu tư, công nghệ và từng bước hội nhập kinh tế  khu vực và thế giới. Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV, khoá VIII (12/1997)  nêu nhiệm vụ ” tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan ngoại giao trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại”. Qua những hoạt động thực tế, những năm gần đây nhận thức của ngành về ngoại giao phục vụ kinh tế đã được nâng cao thêm  một bước, đặc biệt là  tính cấp bách của công tác này cũng như nội dung phương hướng của hoạt động ngoại giao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 23 tháng 12/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải  nhấn mạnh “Trong thời gian rất dài, xây dựng kinh tế luôn luôn là nhiệm vụ trung tâm, do đó phục vụ kinh tế phải thực sự là trọng tâm công tác của Ngành Ngoại giao “.

Nội dung chính của hoạt động ngoại giao phát triển kinh tế.

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 23 tháng 12/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã giao  những nhiệm vụ  của ngành ngoại giao:

+ Góp phần mở rộng thị trường theo hướng đa dạng hoá thị trường, sản phẩm, tránh phụ thuộc vào một vài thị trường, nhóm sản phẩm.

+ Tăng cường công tác thông tin về thị trường, đối tác, những thay đổi về môi trường chính sách của các nước.

+  Tích cực vận động FDI, ODA.

+ Tích cực xúc tiến du lịch, xuất khẩu lao động (phấn đấu đưa hàng triệu lao động ra nước ngoài).

+ Tăng cường công tác thông tin, tình báo kinh tế, khoa học công nghệ.

+ Bên cạnh việc cần làm tốt hơn những lĩnh vực mà xưa nay Ngành đã làm, cần trú trọng hỗ trợ doanh nghiệp, liên hệ chặt chẽ với doanh nghiệp.

Những biện pháp thúc đẩy công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế trong thời gian tới:

- Thông tin, tuyên truyền, tình báo kinh tế – kỹ thuật- công nghệ.

Đây là lĩnh vực mà ngoại giao có ưu thế, cần thúc đẩy để làm tốt hơn nữa. Công tác này bao gồm các cơ quan đại diện thực hiện tuyên truyền phục vụ kinh tế đối ngoại về các chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam, tiếp xúc với các đối tác, tham gia các hoạt động hội thảo, hội nghị, toạ đàm, gặp gỡ doanh nghiệp để quảng bá, tuyên truyền về Việt Nam, thu hút giới đầu tư, thương mại và khách du lịch.  Các cơ quan đại diện ở nước ngoài có điều kiện thu thập, nắm bắt và thẩm định thông tin tại chỗ để cung cấp cho trong nước,  nhất là về chính sách, luật lệ, thủ tục, thuế quan của các nước, nhu cầu về các loại mặt hàng của thị trường sở tại mà ta có khả năng xuất khẩu, khả năng của các đối tác….

Một điều kiện quan trọng để có thể làm tốt công tác này là sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Thông tin hai chiều giữa ngành ngoại giao, đặc biệt là các cơ quan đại diện với các cơ quan, tổ chức kinh tế và doanh nghiệp  trong nước là cơ sở và điều kiện tiên quyết để các cơ quan đại diện làm tốt công tác này.

- Tham mưu, tư vấn cho các cơ quan và doanh nghiệp.

Với kinh nghiệm quốc tế của mình, ngành Ngoại giao có thể tư vấn cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong một số lĩnh vực cụ thể:

+ Nghiên cứu và  kiến nghị về  kinh nghiệm, chính sách, chiến lược, luật lệ kinh tế  của nước sở tại và kiêm nhiệm để phục vụ việc hoạch định chính sách trong nước.

+ Phối hợp với các cơ quan trong nước đàm phán với nước sở tại về các vấn đề kinh tế; xây dựng, đàm phán và ký kết các hiệp định, hợp đồng, dự án với các đối tác nước ngoài.

+ Theo dõi tình hình và kiến nghị cho trong nước về các chủ trương, chính sách, tình hình viện trợ của các nước (nhất là các nước cấp viện trợ và các nước nhận viện trợ lớn, thông tin về sự phản hồi của Chính phủ, các TCQT và các NGO về môi trường đầu tư, tình hình triển khai ODA của Việt Nam).

- Vận động (lobby) ở nước ngoài.

Đây là lĩnh vực mà ngành Ngoại giao có thế mạnh. Các đồng chí  Đại sứ, Trưởng cơ quan đại diện là người thích hợp nhất  trực tiếp vận động chính giới sở tại, các tổ chức kinh tế, chính trị, doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề lớn trong quan hệ hợp tác kinh tế với nước ta. Các vấn đề lớn này còn bao gồm cả những tranh chấp kinh tế, thương mại lớn, việc xoá bỏ các hàng rào  thuế và phi thuế đối với xuất khẩu của ta, đấu tranh nhằm thực hiện tốt các hiệp  định  kinh tế, thương mại với nước sở tại.

- Góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc

Ngành Ngoại giao hỗ trợ kinh tế trong nước qua các công tác khác như: theo dõi, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện các thoả thuận và cam kết quốc tế về hợp tác kinh tế; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất nhập cảnh và giải quyết các thủ tục lãnh sự; làm tốt công tác cộng đồng, huy động tối đa các nguồn lực từ người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư và kinh doanh trong nước.

- Giúp mở rộng thị trường và  giới thiệu đối tác

Đối với những thị trường mà ta chưa có mặt, Ngoại giao cần nghiên cứu khả năng tiếp cận, đi bước trước và hỗ trợ doanh nghiệp, hàng hoá Việt Nam thâm nhập.  Các CQĐD cần làm cầu nối giữa các doanh nghiệp của ta với các đối tác nước ngoài, giúp tìm thị trường, móc nối, khơi thông và thẩm tra đối tác, nhất là các đối tác đầu tư, nhập khẩu lao động, du lịch, cũng như các nguồn tín dụng, công nghệ để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước. Hỗ trợ các doanh nghiệp thẩm tra đối tác về  uy tín, khả năng tài chính, công nghệ sẽ giảm bớt và đi tới lừa đảo kinh tế thương mại, giúp xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, giảm bớt sự mất mát đáng kể đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

- Hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp tại nước sở tại.

Các cơ quan đại diện phối hợp tổ chức và hỗ trợ các đoàn thương nhân trong nước ra hoạt động ở nước ngoài; hỗ trợ các hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp; tư vấn và hỗ trợ các doanh nghiệp đàm phán ký kết hợp đồng; bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và công dân Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các cơ quan đại diện thực hiện phương châm ” ở đâu khó, có chúng tôi”. Tuy vậy, các cơ quan và  doanh nghiệp  trong nước cần giúp các cơ quan đại diện làm tốt việc này bằng cách thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về công tác thông tin, báo cáo khi ở nước ngoài.

- Giúp vận động trong đấu thầu.

Đấu thầu quốc tế hiện còn là vấn đề tương đối mới đối với các doanh nghiệp của ta vì nhiều lẽ như tiềm lực của các công ty ta còn khiêm tốn, ta chưa có nhiều kinh nghiệm và nhất là công ty ta chưa hiểu luật lệ, tập quán kinh doanh, đối tác của nước sở tại. Các cơ quan đại diện là người thích hợp nhất giúp các công ty trong nước về thông tin các mặt, kể cả việc vận động để thắng trong các gói thầu lớn, các đơn đặt hàng lớn của các tổ chức quốc tế và các nước viện trợ.

-  Có thể giúp làm đại diện cho địa phương, hiệp hội ngành nghề trong tham gia hoạt động ở nước ngoài, nhất là đối với các hiệp hội ngành nghề còn hạn chế về kinh phí hoạt động.

Những nhiệm vụ cụ thể nêu trên  và cả những vấn đề khác nữa, ngành ngoài giao có thể và có điều kiện  làm được nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước theo quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta, được thể hiện rất rõ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 9 vừa qua. Tuy nhiên, để  thực hiện tốt  những nhiệm vụ này đòi hỏi  nhiều nhân tố, trong đó một số nhân tố đã có sẵn, một số nhân tố đã được hình thành và đang trong quá trình phát triển. Sau đây, xin nêu một số nhân tố:

Một là, Lãnh đạo cấp cao và Lãnh đạo Bộ Ngoại giao rất quan tâm và chỉ đạo sát sao công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường công tác này ở các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như các đơn vị liên quan trong nước.  Lãnh đạo Bộ Ngoại giao, đặc biệt Đồng chí Bộ trưởng, đã giành nhiều thời gian, công sức  chỉ đạo chặt chẽ công tác này, luôn nhắc nhở các đơn vị trong nước và cơ quan đại diện ở nước ngoài đầu tư nhiều hơn thời gian, trí lực, sức lực và kinh phí cho công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế.

Hai là, các đơn vị trong nước và các cơ quan đại diện  đã có nhiều cố gắng  trong công tác này. Tuy vậy, so với yêu cầu, các đơn vị trong và ngoài nước cần phải cố gắng nhiều hơn, liên tục hơn, đặc biệt trong công tác tổ chức, cán bộ, chương trình, kế hoạch công tác hàng ngày, hàng tháng, hàng quý và năm mới nâng cao được hiệu quả công tác này.

Ba là, phải tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh

nghiệp  với các cơ quan đại  diện Việt nam ở nước ngoài và Bộ Ngoại giao. Quan hệ và thông tin hai chiều này cực kỳ quan trọng giúp ngành đối ngoại hoàn thành tốt nhiệm vụ phụ vụ phát triển kinh tế, có lợi cho sự nghiệp chung, đồng thời cũng có lợi trực tiếp cho các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong nước. Để phục vụ mục tiêu này, Bộ Ngoại giao đã thí điểm ký kết Thoả thuận hợp tác với 6 tỉnh/thành gồm Đà Nẵng, Thanh Hoá, Hà Nam, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Khánh Hoà nhằm hỗ trợ các địa phương này hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời Bộ Ngoại giao đã ký kết Thoả thuận hợp tác với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với mục tiêu hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp cũng như các địa phương xúc tiến kinh tế đối ngoại.

Bốn là, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài là chủ thể rất quan trọng trong việc thúc đẩy công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế. Gần 70 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài  ta cần  có hành lang pháp lý để đẩy mạnh công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế. Chính vì vậy, ngày 10 / 2 / 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định về hoạt động phục vụ kinh tế của cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.  Nghị định đã hệ thống hoá và chi tiết hoá các nội dung hoạt động phục vụ kinh tế của các CQĐD. Nghị định cũng quy định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành và Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh trong quản lý hoạt động phục vụ kinh tế của các CQĐD; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Bộ Ngoại giao và các cơ quan quản lý kinh tế đối ngoại nhằm nâng cao hiệu quả và sự chủ động của các CQĐD trong hoạt động phục vụ kinh tế. Thêm vào đó, Nghị định quy định những biện pháp cụ thể về kinh phí, tổ chức và cơ chế kiểm tra, giám sát nhằm khuyến khích và hỗ trợ CQĐD trong hoạt động phục vụ kinh tế.

Năm là,  nguồn kinh phí nhất định  cho  một số hoạt động đột xuất hoặc tính đặc thù trong công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế là rất cần thiết. Chính vì lẽ đó,  Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết đinh 195/QĐ – TTg ngày 18/9/2003 về việc thành lập Quỹ hỗ trợ hoạt ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế  do Ngân sách Nhà nước cấp ban đầu là 16 tỷ đồng (khoảng 1 triệu USD). Quỹ này sẽ tập trung chi vào các hoạt động như:

- Tìm hiểu, xúc tiến và tìm kiếm thị trường mới, cơ hội mới trong các lĩnh vực kinh tế đối ngoại;

- Hoạt động của cơ quan đại diện hỗ trợ giải quyết các tranh chấp trong hoạt động kinh tế đối ngoại;

- Thu thập thông tin về kinh tế, công nghệ, khoa học kỹ thuật có giá trị;

- Trợ giúp các tổ chức kinh tế, khoa học kỹ thuật trong nước nhận được những công nghệ tiên tiến trong việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ;

- Hoạt động đối ngoại cần thiết nhằm xây dựng mối quan hệ với chính giới và tài giới của nước sở tại;

- Các hoạt động khác theo chỉ đạo của Chính phủ;

- Các hoạt động trực tiếp hỗ trợ việc thực hiện các nhiệm vụ phục vụ phát triển kinh tế của cơ quan đại diện do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quyết định.

(Vụ Hợp tác Kinh tế Đa phương – Bộ Ngoại giao).

http://www.haiphongdofa.gov.vn/vn/index.asp?menuid=450&parent_menuid=416&fuseaction=3&articleid=1441

Chính sách đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam

Chính sách đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam
Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, Đại hội VII (1991), Hội nghị Trung ương 3 (khóaVII) và Đại hội VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tiếp đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ…
Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, Đại hội VII (1991), Hội nghị Trung ương 3 (khóaVII) và Đại hội VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tiếp đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” nhằm mục tiêu “giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Từ năm 1991 đến nay, hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam diễn ra cùng một lúc trên 4 mặt :

Một là, tạo dựng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc củng cố và thúc đẩy các mối quan hệ song phương, nhất là quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Nhận thức rõ điều đó, hoạt động đối ngoại đã tập trung giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Đồng thời triển khai mạnh mẽ các hoạt động ngoại giao song phương cấp cao với các nước ASEAN, chủ động tham gia các hoạt động của Hiệp hội và năm 1995, Việt Nam chính thức tham gia ASEAN. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN là một quyết định đúng đắn và kịp thời. Cùng với việc giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nối lại quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, ký Hiệp định khung với với Liên minh châu Âu, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển ở châu á, Trung Đông, châu Phi, Mỹ La-tinh và các nước công nghiệp phát triển trên thế giới… việc Việt Nam gia nhập ASEAN góp phần phá thế bị bao vây, cô lập, tạo ra môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi hơn cho sự nghiệp xây dựng đất nước, đưa Việt Nam hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc tế. Mặt khác, để góp phần bảo đảm an ninh và ổn định cho đất nước, hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã góp phần chủ động và tích cực giải quyết những vấn đề tồn tại với các nước láng giềng và các nước ở khu vực như đàm phán và ký Hiệp định biên giới với Lào, thỏa thuận về khai thác chung với Ma-lai-xi-a trên vùng chồng lấn, phân định vùng chồng lấn với Thái Lan, đàm phán và ký Hiệp định về biên giới trên bộ với Trung Quốc và đang đàm phán để có thể ký Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc trong năm 2000, tiếp tục đàm phán với In-đô-nê-xi-a về phân định thềm lục địa, tiếp tục đàm phán với Campuchia để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về biên giới lãnh thổ. Hoạt động đối ngoại cũng đã góp phần kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động lợi dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ” và “tự do tín ngưỡng” để can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Toàn bộ các hoạt động trên đã góp phần quan trọng và thiết thực vào việc tạo dựng môi trường khu vực tương đối ổn định và thuận lợi cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi góp phần vào công cuộc phát triển đất nước, mở rộng hợp tác kinh tế. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nhờ những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới và chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã làm thất bại chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và đồng minh, mở rộng và đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại song phương với hơn 130 nước và lãnh thổ, đón nhận nguồn đầu tư trên 36 tỷ USD của hơn 60 nước và lãnh thổ, tranh thủ hơn 13 tỷ USD từ nguồn viện trợ ưu đãi chính thức của các chính phủ và các tổ chức quốc tế và hàng tỷ USD viện trợ không hoàn lại của nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ. Việc tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, tăng cường hợp tác, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước cũng là sự đóng góp trực tiếp và thiết thực cho yêu cầu bảo đảm an ninh.

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, lực lượng sản xuất phát triển nhanh và quốc tế hóa cao độ, đẩy nhanh xu thế toàn cầu hóa. Trong bối cảnh đó, các nước đều tìm cách giành cho mình một vị thế xứng đáng trong phân công lao động quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý để phát triển, đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình. Nhận rõ xu thế đó, Việt Nam đã đề ra chủ trương hội nhập và kiên trì thực hiện chủ trương đó. Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Từ đầu những năm 90 Việt Nam đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, tiếp đó năm 1995 chính thức gia nhập ASEAN và tham gia AFTA. Năm 1996 Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập và năm 1998 trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam cũng đã đàm phán và ký Hiệp định Thương mại với Mỹ và đang đàm phán về việc gia nhập WTO, mức hội nhập cao nhất, rộng nhất, có ý nghĩa quan trọng đối với việc thiết lập môi trường buôn bán và quan hệ hợp tác kinh tế với toàn bộ thế giới.

Ba là, nâng cao vị thế nước nhà trên trường quốc tế. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 167 nước thuộc tất cả các châu lục và lần đầu tiên trong lịch sử có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Trong điều kiện quốc tế ngày nay khi quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao đa phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU…), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN … Việc Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp năm 1997 và đặc biệt là Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 năm 1998 đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín và vị thế của đất nước. Có thể nói ngoại giao đa phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới. Những kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước , tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dưng đất nước.

Bốn là, chủ động tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các hoạt động đối ngoại phong phú, đa dạng cả theo đường Đảng lẫn Nhà nước và các hoạt động quốc tế nhân dân đã góp phần duy trì và củng cố quan hệ đoàn kết hữu nghị với các đảng phái chính trị, trước hết là các Đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức tiến bộ đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, từ đó tranh thủ sự hỗ trợ về chính trị có lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bước vào thế kỷ 21, Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển“. Nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại trong thời gian tới là tiếp tục tạo môi trường và điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

http://www.haiphongdofa.gov.vn/vn/index.asp?menuid=450&parent_menuid=416&fuseaction=3&articleid=1438

Nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm

Nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm
Ngày 9/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định về nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Dưới đây là toàn bộ nội dung của Nghị định.
CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Để thống nhất các quy định về nghi thức Nhà nước trong việc tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Nghi thức Nhà nước

Nghi thức Nhà nước quy định trong Nghị định này là hình thức, thủ tục tổ chức một buổi lễ mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là buổi lễ) nhằm đảm bảo tính thống nhất, trang trọng, tôn vinh, giáo dục, khoa học, thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm.

Điều 2. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh

1. Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ phải tuân thủ hình thức, thủ tục quy định trong Nghị định này.

2. Những hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước thực hiện theo Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về nghi lễ Nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài. Các ngày lễ khác chỉ tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm vào các năm tròn 5, chẵn 10; các năm lẻ tổ chức sinh hoạt nội bộ, gọn nhẹ, thiết thực, tiết kiệm.

3. Bộ Ngoại giao hướng dẫn hình thức, thủ tục trao tặng Huân chương, Huy chương đối với tổ chức quốc tế, người nước ngoài không thuộc đối tượng quy định tại Nghị định này.

Chương II
KHÁCH MỜI VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC BUỔI LỄ

Điều 3. Khách mời

Tùy tính chất, quy mô buổi lễ, Ban Tổ chức mời khách trong phạm vi thích hợp. Khuyến khích mời số lượng khách gọn, thiết thực, phù hợp với mục đích, yêu cầu buổi lễ; tránh phô trương, hình thức, gây lãng phí, tốn kém về thời gian, tiền bạc. Hạn chế việc mời nhiều khách từ các địa phương về Trung ương và ngược lại.

Trường hợp khách mời là các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, việc mời khách phải thông qua cơ quan cấp trên trực tiếp và thực hiện theo quy định tại Điều 12 Quy định số 60-QĐ/TW ngày 11 tháng 02 năm 2003 của Bộ Chính trị về tổ chức các chuyến đi công tác cơ sở, tham dự các cuộc mít tinh, lễ kỷ niệm, đại hội, hội nghị và tiếp các đoàn đại biểu trong nước của các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Điều 4. Trang trí buổi lễ

Buổi lễ được tổ chức trong hội trường hoặc ngoài trời.

1. Tổ chức trong hội trường:

Sân khấu hội trường được trang trí trang trọng theo những quy định sau:

a) Quốc kỳ hoặc Quốc kỳ và cờ Đảng treo trên phông hậu hoặc trên cột cờ về phía bên trái của sân khấu; Quốc kỳ ở bên phải, cờ Đảng ở bên trái (nhìn từ phía hội trường lên).

b) Tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trên bục cao phía dưới ngôi sao hoặc ở phía dưới giữa ngôi sao và hình búa liềm theo chiều thẳng đứng. Trường hợp cờ được treo trên cột thì đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh chếch phía trước bên phải cột cờ (nhìn từ phía hội trường lên).

c) Tiêu đề buổi lễ kiểu chữ chân phương trên nền phông hậu về phía bên phải sân khấu.

d) Bàn Đoàn Chủ tịch: căn cứ vào tính chất của buổi lễ, Ban Tổ chức quyết định việc bố trí bàn Đoàn Chủ tịch buổi lễ.

Bàn Đoàn Chủ tịch được bố trí ở giữa sân khấu. Tùy theo số lượng thành viên Đoàn Chủ tịch, Ban Tổ chức quyết định số hàng (cao dần về phía sau) nhưng hàng sau cùng người ngồi không được che khuất tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiêu đề buổi lễ. Đoàn Chủ tịch được bố trí ngồi theo chức vụ quan trọng từ giữa ra hai bên, từ phía trước ra phía sau.

đ) Bục diễn giả có thể bố trí trên sân khấu (phía bên phải sân khấu) hoặc phía dưới trước sân khấu tùy theo điều kiện cụ thể của hội trường. Không đặt bục diễn giả che lấp tiêu đề trên phông hậu; không đặt hoa che lấp mặt người nói; mi-crô trên bục diễn giả được đặt ngay ngắn, thuận tiện cho người nói.

e) Hoa trang trí đặt ở phía dưới, trước bục đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với những cuộc mít tinh, lễ kỷ niệm có thể đặt lẵng hoa phía trước bục diễn giả và chậu cây cảnh hoặc lẵng hoa phía dưới tiêu đề dọc theo phông hậu. Nếu có lẵng hoa của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước tặng thì đặt ở vị trí trang trọng. Không đặt quá nhiều lẵng hoa trên sân khấu (khoảng 5 chậu cây cảnh hoặc 5 lẵng hoa).

g) Khẩu hiệu của buổi lễ được treo ở vị trí nổi bật, phù hợp với không gian hội trường. Nội dung khẩu hiệu do Ban Tổ chức quyết định.

h) Bên ngoài hội trường treo Quốc kỳ ở vị trí trang trọng, cờ trang trí, băng khẩu hiệu, tạo cảnh quan phù hợp với buổi lễ.

i) Khách mời được bố trí ngồi đối diện phía dưới trước sân khấu theo chức vụ quan trọng từ giữa ra hai bên, từ phía trước ra phía sau.

2.Tổ chức ngoài trời:

a) Buổi lễ ngoài trời được tổ chức tại quảng trường, sân vận động hoặc một nơi trang trọng khác do Ban Tổ chức quy định.

b) Lễ đài được thiết kế vững chắc, bài trí tương tự như trong hội trường. Quốc kỳ treo trên cột cao trước lễ đài. Quanh lễ đài có cờ trang trí, băng khẩu hiệu phù hợp.

c) Vị trí Đoàn Chủ tịch được bố trí giữa lễ đài. Quần chúng dự mít tinh đứng thành khối trước lễ đài.

Điều 5. Phù hiệu

Căn cứ yêu cầu của buổi lễ, Ban Tổ chức quyết định việc sử dụng phù hiệu. Nếu dùng phù hiệu, Ban Tổ chức quy định hình thức phù hiệu để phân biệt đại biểu, Ban Tổ chức.

Hạn chế dùng phù hiệu “nơ”, hoa cài ngực… đối với những buổi lễ không thật cần thiết hoặc quá đông người.

Điều 6. Trang phục

1. Đoàn Chủ tịch, người chủ trì buổi lễ; đại biểu là các đồng chí lãnh đạo các cấp, khách mời; người trao tặng và người đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ trang phục được quy định như sau:

a) Nam: com lê có thắt cà vạt hoặc áo sơ mi dài tay có thắt cà vạt.

b) Nữ: áo dài truyền thống (trời lạnh có thể có áo khoác ngoài) hoặc com lê nữ.

2. Quần chúng dự lễ: trang phục lịch sự, chỉnh tề phù hợp với buổi lễ.

3. Ban Tổ chức buổi lễ quy định trang phục của khối quần chúng và đơn vị tham gia diễu hành.

4. Khách mời, đại biểu và quần chúng dự lễ là người dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo khuyến khích mặc trang phục dân tộc, lễ phục tôn giáo. Người dự lễ là tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ các lực lượng vũ trang mặc quân phục của quân chủng, binh chủng.

Điều 7. Biểu diễn nghệ thuật, tặng quà, chiêu đãi

1. Không khuyến khích tổ chức biểu diễn văn nghệ trước buổi lễ. Trong trường hợp xét thấy cần biểu diễn nghệ thuật thì chương trình văn nghệ phải phù hợp với nội dung buổi lễ và không quá 30 phút; thời gian biểu diễn văn nghệ được ghi rõ trong giấy mời.

2. Không dùng tiền ngân sách nhà nước để làm quà tặng. Trường hợp cần thiết và được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền mới tổ chức chiêu đãi, tặng quà lưu niệm. Quà lưu niệm phải đảm bảo tính thiết thực, có ý nghĩa, tiết kiệm và được trao sau khi kết thúc buổi lễ.

Điều 8. Đưa tin về buổi lễ

Việc đưa tin về buổi lễ trên các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Chương III
TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH MÍT TINH, LỄ KỶ NIỆM

Điều 9. Trình tự tiến hành mít tinh, lễ kỷ niệm

1. Trưởng Ban Tổ chức buổi lễ thông báo chương trình buổi lễ; mời lãnh đạo và đại biểu đứng dậy làm lễ chào cờ; phát lệnh chào cờ.

2. Nhạc Quốc ca qua băng ghi âm, đối với buổi lễ quan trọng do Quân nhạc cử Quốc ca, người dự lễ hát theo.

3. Trưởng Ban Tổ chức cảm ơn và mời lãnh đạo, đại biểu ngồi.

4. Trưởng Ban Tổ chức tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu ngắn gọn, trang trọng. Chỉ giới thiệu tên và chức vụ đồng chí đại biểu có chức vụ cao nhất về Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc của Trung ương và địa phương; các đồng chí khác giới thiệu chung.

5. Trưởng Ban Tổ chức giới thiệu đồng chí lãnh đạo được phân công đọc diễn văn hoặc đọc báo cáo tại buổi lễ.

6. Trưởng Ban Tổ chức giới thiệu lãnh đạo cấp trên hoặc khách mời phát biểu ý kiến.

Để đơn giản hóa thủ tục, mở đầu diễn văn, báo cáo hoặc phát biểu chỉ kính thưa một đồng chí có chức vụ cao nhất của Trung ương hoặc địa phương dự buổi lễ, còn lại kính thưa chung các đồng chí lãnh đạo, các vị đại biểu.

7. Trưởng Ban Tổ chức nói lời cảm ơn. Trường hợp lãnh đạo cấp cao của Đảng hoặc Nhà nước phát biểu thì người đứng đầu đơn vị tiếp thu ý kiến và nói lời cảm ơn.

8. Trưởng Ban Tổ chức cảm ơn và kết thúc buổi lễ trong tiếng nhạc của bài hát phù hợp với tính chất của buổi lễ.

Chương IV
NGUYÊN TẮC VÀ TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH

Lễ trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

Điều 10. Nguyên tắc tổ chức trao tặng, đón nhận khen thưởng

1. Tổ chức trao tặng và đón nhận một lần ở một cấp xét thấy có tác dụng giáo dục, nêu gương tốt nhất. Không tổ chức diễu hành hoặc tổ chức đón rước từ cấp này, địa điểm này đến cấp khác, địa điểm khác.

2. Kết hợp tổ chức trao tặng và đón nhận khen thưởng trong buổi lễ kỷ niệm ngày lễ lớn của đất nước, ngày truyền thống của ngành, địa phương, đơn vị, hội nghị tổng kết nhưng phải có chương trình cụ thể và thực hiện đúng Nghị định này.

3. Cá nhân được khen thưởng trực tiếp nhận khen thưởng. Trường hợp cá nhân được khen thưởng vắng mặt hoặc đã qua đời thì người đại diện hợp pháp của người được khen thưởng nhận thay.

4. Không tặng hoa trong khi trao tặng, đón nhận khen thưởng. Chỉ tặng hoa sau khi người được khen thưởng rời khỏi lễ đài hoặc sân khấu.

Trong quá trình trao tặng, cần hướng dẫn phóng viên quay phim, chụp ảnh, người tặng hoa để không gây mất trật tự trên khu vực lễ đài hoặc trên sân khấu. Giữa các đợt trao tặng có thể có nhạc nền hoặc quân nhạc chào mừng.

Điều 11. Thứ tự trao tặng, đón nhận khen thưởng

1. Trao tặng cho tập thể trước, cá nhân sau.

2. Hình thức khen thưởng cao được trao trước, thấp hơn trao sau.

3. Trong trường hợp số lượng tập thể và cá nhân được trao tặng nhiều thì mời từng đợt. Quy định số thứ tự và vị trí cụ thể cho từng người trên lễ đài hoặc sân khấu theo danh sách để trao đúng người, tránh nhầm lẫn, lộn xộn khi trao tặng. Bố trí việc trao tặng hợp lý, không để người trao phải đi lên đi xuống nhiều lần.

Điều 12. Trình tự trao tặng và đón nhận khen thưởng

1. Nghi thức chào cờ, tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 9 Nghị định này.

2. Trưởng Ban Tổ chức mời thủ trưởng đơn vị báo cáo tóm tắt thành thích của đơn vị và của cá nhân được khen thưởng (nếu nhiều tập thể, cá nhân được khen thưởng thì báo cáo tóm tắt thành tích chung, không đọc bản thành tích của từng tập thể, cá nhân).

3. Trưởng Ban Tổ chức mời đại diện chính quyền, cấp ủy Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên của đơn vị được khen thưởng và cá nhân được khen thưởng lên lễ đài hoặc sân khấu để đón nhận Quyết định.

4. Trưởng Ban Tổ chức công bố Quyết định. Đại diện tập thể hoặc cá nhân được khen thưởng đứng nghiêm theo hàng trên lễ đài nghe công bố và đón nhận Quyết định. Những người tham dự khác không đứng dậy trong khi đọc quyết định khen thưởng. Khi công bố xong quyết định người dự vỗ tay chúc mừng.

5. Trưởng Ban Tổ chức mời đồng chí lãnh đạo có chức vụ cao nhất về Đảng và Nhà nước có mặt tại buổi lễ trao Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể, cá nhân được khen thưởng. Người trao gắn Huân chương, Huy chương lên góc cao lá cờ truyền thống của đơn vị (nếu có) hoặc trên ngực áo. Nếu trên lá cờ truyền thống của đơn vị hoặc trên ngực áo của cá nhân đang có các loại Huân chương, Huy chương mà Huân chương, Huy chương được trao lần sau cao hơn thì phải được gắn ở vị trí cao hơn các Huân chương, Huy chương có trước.

6. Trưởng Ban Tổ chức mời lãnh đạo cấp trên phát biểu ý kiến.

7. Trưởng Ban Tổ chức mời thủ trưởng đơn vị, cá nhân được khen thưởng phát biểu ý kiến.

8. Trưởng Ban Tổ chức cảm ơn và tuyên bố bế mạc buổi lễ.

Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 13. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan Trung ương của các đoàn thể chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

TM. CHÍNH PHỦ
Thủ tướng

PHAN VĂN KHẢI

Lễ tân ngoại giao trong hội đàm

Lễ tân ngoại giao trong hội đàm

Để tổ chức tốt cuộc hội đàm, người cán bộ lễ tân cần vạch kế hoạch trước và kiểm tra bàn ghế, micro, cốc chén trước khi cuộc họp khai mạc; đặc biệt, phải chú ý sắp xếp chỗ ngồi đúng vị trí, ngôi thứ.

Nói chung, các nước đón khách đến thăm chính thức, thăm làm việc đều có hoặc làm việc giữa hai đoàn. Đối với Vua hoặc Nữ hoàng hay thành viên Hoàng gia thường không hội đàm hoặc không tham gia hội đàm, trừ phi người đó đồng thời kiêm hành pháp. Sau đây là một số vấn đề cần chú ý khi tổ chức một cuộc hội đàm với khách.

Thành phần hội đàm: Về cơ bản, thành phần hội đàm hai bên tương ứng về chức vụ, nghề nghiệp và số lượng. Nếu cần thiết, nước chủ nhà có thể cử thêm thành phần tham gia hội đàm để đạt được yêu cầu nêu trên.

Cách sắp xếp bàn và vị trí ngồi:

Bàn hội đàm hoặc làm việc giữa hai đoàn được xếp theo kiểu bàn dài, hình ô-van hay bầu dục.

Về vị trí ngồi: phải tôn trọng nguyên tắc ngôi thứ, không xếp xen kẽ giữa chủ và khách như chiêu đãi mà xếp mỗi Đoàn ngồi một bên.

Người chủ trì (Trưởng đoàn) của mỗi bên ngồi giữa, bên phải Trưởng đoàn là người thứ hai, bên trái Trưởng đoàn là phiên dịch (phiên dịch không được coi như xếp số), bên phải số hai là số bốn, bên trái phiên dịch là số ba và tiếp đến xếp theo thứ tự bên phải rồi bên trái cho đến hết.

Một số nước xếp phiên dịch ngồi bên phải Trưởng đoàn; như vậy, trật tự phải trái được đảo lại.

Trên bàn hội đàm phải đặt thiếp ghi tên để các đại biểu vào ngồi đúng vị trí.

Cách sử dụng cờ: Nhiều nước có quy định chỉ đặt cờ hai nước trong hội đàm và thăm làm việc đối với Trưởng đoàn từ cấp Bộ trưởng, Chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trở lên; một số nước mở rộng đến Chủ tịch chính quyền, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố. Nước ta chưa có quy định về vấn đề này nhưng có thể áp dụng thông lệ trên. Cờ nhỏ (gọi là cờ hội đàm) đặt trước mặt Trưởng đoàn. Cờ to của hai nước cũng có thể được dựng ở phía đầu bàn bên trong, sát phông; nếu nhìn từ ngoài vào thì cờ chủ nhà bên phải, cờ khách bên trái và chỗ ngồi của mỗi bên theo vị trí cờ. Đại diện các Công ty khi làm việc đối ngoại không cắm Quốc kỳ mà có thể dùng cờ biểu trưng của Công ty chủ và khách.


Phóng viên:
Trong các cuộc hội đàm, làm việc, Ban tổ chức nên tạo điều kiện thuận lợi cho các phóng viên vào làm việc lúc mở đầu khoảng 3-4 phút. Sau đó, phóng viên phải ra để cuộc hội đàm được chính thức bàn về các vấn đề nội dung.


Phục vụ:
Nói chung, trên bàn hội đàm và làm việc thường để sẵn nước suối hoặc nước trái cây. Có thể phục vụ trà, cà phê lúc ban đầu; không sử dụng cốc thuỷ tinh để rót nước trà kể cả trà đen, mà phải dùng cốc bằng sứ.
Ngày nay, không thấy nước nào để thuốc lá khi hội đàm, làm việc hoặc tiếp khách. Sau khi phục vụ lúc ban đầu, người phục vụ cần sớm rút ra ngoài để phòng làm việc được tập trung, yên tĩnh. Người phục vụ chỉ vào khi cần thiết hoặc được yêu cầu phục vụ. Trong khi hội đàm, làm việc nên tránh đi ra, đi vào nhiều, ảnh hưởng đến không khí cuộc họp./.                                 Theo nghiệp vụ ngoại giao – BNG

Đón tiếp các đoàn Đại biểu cấp cao, đoàn Ngoại giao hoặc Đại sứ (đại diện) nước ngoài về thăm địa phương.

Đón tiếp các đoàn Đại biểu cấp cao, đoàn Ngoại giao hoặc Đại sứ (đại diện) nước ngoài về thăm địa phương.

Ứng xử như thế nào cho đúng trong quan hệ với các đối tác nước ngoài là một việc làm không ít khó khăn, phức tạp và tế nhị, lại khá mới mẻ đối với nhiều người trong chúng ta. Nó mang tính chất vừa hợp tác vừa đấu tranh thông qua giao tiếp và đối thoại một cách văn minh, lịch sự để bảo vệ lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tăng cường hữu nghị và hợp tác với bạn bè quốc tế. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, người làm công tác đối ngoại ngoài việc phải rèn luyện phẩm chất tốt và quán triệt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, cần tinh thông và vận dụng nhuần nhuyễn chuyên môn, nghiệp vụ đối ngoại. Lễ tân ngoại giao thuộc nghiệp vụ đối ngoại, có tầm quan trọng đặc biệt đối với mọi hoạt động có nhân tố nước ngoài. Có thể khẳng định rằng hễ có hoạt động ngoại giao, hoạt động đối ngoại là có lễ tân ngoại giao, lễ tân đối ngoại.

Xin giới thiệu với các bạn một phần trong công tác lễ tân ngoại giao là đón tiếp các đoàn đại biểu cấp cao, đoàn Ngoại giao hoặc đại sứ (đại diện) nước ngoài về thăm địa phương.

1. Các bước chuẩn bị

Khi được tin có đoàn Cấp cao, đoàn Ngoại giao, Đại sứ (đại diện) nước ngoài về thăm địa phương, ngoại vụ địa phương cần làm tốt các công tác chuẩn bị sau:

- Thông qua Bộ Ngoại giao (hoặc Vụ chủ quản) để nắm rõ về tiểu sử, đặc điểm của khách, yêu cầu mục đích chuyến đi, tình hình đối nội, đối ngoại của nước mà họ đại diện, tình hình quan hệ giữa nước họ với ta, những yêu cầu cần chú ý trong giao tiếp, nguyện vọng của họ khi về địa phương.

- Làm đề án và chương trình đón tiếp, trong đó chú ý làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung trao đổi ý kiến. Lên danh sách khách mời làm việc và dự các bữa tiệc chiêu đãi; phân công nhiệm vụ phụ trách cụ thể cho từng cán bộ.

- Lên kế hoạch cụ thể đón ở đâu (sân bay, sân ga, ở địa giới của tỉnh) và trang trí (có cờ, khẩu hiệu không? nội dung thế nào) bố trí ở đâu, đi đường nào cho an toàn và đẹp mắt, đưa về đâu trước, ở đó có ai, làm gì (tặng hoa hay không? Có tiêu binh không?…)
– Phối hợp với các Ban, ngành tổ chức công tác đón tiếp, phân công cho từng Ban, ngành phụ trách các nội dung khác nhau dựa trên đề án đã được Lãnh đạo duyệt:

* Văn phòng Tỉnh uỷ, Uỷ ban hoặc bộ phận ngoại vụ chuẩn bị nội dung chính trị, tư liệu cho lãnh đạo Tỉnh, diễn văn, đề án hội đàm, nội dung khẩu hiệuuuuđể làm việc với khách.

* Bộ phận lễ tân chuẩn bị hình thức, mức độ nghi lễ đón tiếp, chuẩn bị cơ sở vật chất: ăn, ở, đi lại, làm việc, tham quan, giải trí.

* Công an lo an toàn, trật tự ở mọi nơi đoàn tới và đi qua.

* Giao thông chuẩn bị đường xá.

* Y tế lo phòng bệnh, cấp cứu.

* Tổ chức một cuộc họp với các ngành hữu quan có trách nhiệm đón tiếp và làm việc với khách, phổ biến mục đích yêu cầu đón tiếp. Mọi biện pháp cũng cần có kế hoạch riêng và phân công cụ thể.

2. Đón khách

- Liên hệ với sân bay, nhà ga hoặc các đồng chí có trách nhiệm trong đoàn khách xác định ngày, giờ khách đến để thông báo cho các cơ quan, các đồng chí có trách nhiệm ở địa phương chuẩn bị đón khách.

- Liên hệ trước với các cơ quan chức năng ở sân bay, ga tàu (Ban giám đốc sân bay, Công an cửa khẩu, Hải quannnn) để tranh thủ giúp đỡ giải quyết các thủ tục xuất nhập cảnh, hộ chiếu, hành lý nhanh chóng thuận lợi cho khách

*Đón ở sân bay (nhà ga):

Nếu là Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng tới thăm thì:

- Sân bay treo cờ hai nước, trang trí cờ, khẩu hiệu chào mừng đoàn.
– Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố, Tỉnh, Giám đốc Sở Ngoại vụụụụđón tại cầu thang máy bay, cửa toa (nếu đi tàu hoả), cửa xe (nếu đi xe hơi), giới thiệu những người ra đón (xếp hàng theo vị trí từ cao xuống thấp) rồi đưa khách lên xe

- Xe trưởng đoàn cắm cờ hai nước.

- Xe cảnh sát dẫn đường lúc đón, tiễn và các hoạt động khác.

- Tặng hoa Trưởng đoàn và phu nhân (nếu có).

* Đón ở địa giới tỉnh, thành phố:

- Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Sở Ngoại vụụụụ
– Xe Trưởng đoàn cắm cờ hai nước, có xe cảnh sát dẫn đường.

- Không có cờ, khẩu hiệu ở địa giới Tỉnh.

*) Đón ở trụ sở UBND tỉnh, thành phố:

- Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, Ngoại vụ và đại biểu các ngành.

- Nhà UBND treo cờ hai nước, trang trí cờ, khẩu hiệu chào mừng.

- Tặng hoa.

- Tại nhà khách: treo cờ nước khách và trang trí đèn màu. Còn đối với các đoàn cấp thấp hơn thì đơn giản về mức độ, nên thống nhất trước với cơ quan đưa khách về theo tinh thần quyết định số 186 ngày 2/6/1992 của HĐBT.

* Khi khách đến: (tuỳ theo cách đón ở phần 2)

- Mời những người đi đón (cả ta và bạn) ra đón khách

- Tặng hoa và mời đoàn lên xe ôtô về nhà khách.

- Cử cán bộ lễ tân ở lại sân bay lo thủ tục: hộ chiếu, hành lý.

* Ở nhà khách:

- Tại phòng tiếp khách, chủ khách ngồi theo tập quán quốc tế (khách ngồi bên tay phải chủ nhà), chủ giới thiệu người dự, chương trình, nói vài ba câu chào mừng, nâng cốc chào đoàn, không nên nói dài, hoặc đọc diễn văn , sau đó mời khách vào.

- Bố trí nơi nghỉ và sinh hoạt là chủ yếu.

- Các cơ sở nghỉ mát, dưỡng bệnh tiếp nhận, chăm sóc đoàn là chính trên cơ sở quyết định của lãnh đạo địa phương./.

http://www.haiphongdofa.gov.vn/vn/index.asp?menuid=463&parent_menuid=427&fuseaction=3&articleid=2788

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.